Bệnh sỏi thận

Sỏi thận là một bệnh khá phổ biến, đứng hàng thứ 3 trong các bệnh lý đường tiết niệu sau nhiễm trùng tiểu và bệnh lý tiền liệt tuyến...

0
304

Sỏi thận là một bệnh khá phổ biến, đứng hàng thứ 3 trong các bệnh lý đường tiết niệu sau nhiễm trùng tiểu và bệnh lý tiền liệt tuyến.

Tần số mắc bệnh là 1-15% tùy theo từng vùng, tùy theo tuổi, giới, vùng địa lý, Nam giới mắc bệnh gấp 3 lần nữ giới, tuổi trung bình thường gặp của sỏi niệu 20-40 tuổi. Người da trắng mắc bệnh nhiều gấp 4-5 lần người da đen. Ở các nước đang phát triển nằm ở vùng nhiệt đới tần số mắc bệnh cao hơn.

soi-than-1

Việt Nam cũng là “vùng sỏi”, tại bệnh viện Bình Dân tỉ lệ bệnh nhân sỏi niệu là 22%. Số bệnh nhân phẫu thuật sỏi niệu đứng hàng đầu trong các phẫu thuật đường niệu, khoảng 30-40%. Trong đó thận là cơ quan có sỏi nhiều nhất chiếm 40% trong các loại sỏi ở đường tiết niệu.

Nguyên nhân sinh bệnh.

Quá trình hình thành sỏi thận rất phức tạp, do nhiều yếu tố phối hợp gây ra, nguyên nhân sinh bệnh đến nay chưa được xác định rõ ràng.

Các yếu tố liên quan đến quá trình hình thành sỏi thận bao gồm:

Di truyền

+ Bệnh đa cystine niệu

+ Bệnh acid hóa ống thận

+ Bệnh xốp tủy thận

Địa dư: Các vùng có khí hậu nóng và ẩm.

Chế độ ăn

+ Ăn nhiều calci và oxalate

+ Uống nước không đủ( dưới 1 lít/ngày)

Các dị tật bẩm sinh gây ứ đọng nước tiểu: hẹp khối nối bể thận- NQ, thận móng ngựa, thận đa nang, niệu quản đôi, niệu quản phình to, sa niệu quản.

Nhiễm khuẩn niệu: Thường gây ra sỏi amoni- magie- phosphate.

Nghề nghiệp: Ít vận động, làm việc ở ngoài trời, làm việc mất nhiều mồ hôi.

Triệu chứng lâm sàng

Phần lớn bệnh nhân có những triệu chứng đặc hiệu. Đôi khi những triệu chứng lâm sàng rất nghèo nàn. Ở Việt Nam, bệnh sỏi thận vào viện thường trễ, sau khi đã điều trị ở nhà bằng nhiều phương pháp khác nhau không hiệu quả.

  1. Đau lưng: là triệu chứng thường gặp, chiếm 60% các trường hợp, trong trường hợp khẩn cấp còn gọi là cơn đau quặn thận. Đau do sỏi thận thường khu trú ở vùng hông lưng, gia tăng khi làm việc nặng, vận động nhiều, đau lan xuống hốc chậu, hay xuống bìu, tinh hoàn. Tuy nhiên có thể đau không điển hình như đau đâu âm ỉ vùng hông lưng, bệnh nhân có cảm giác nặng nề khi ấn nhẹ vào vùng này.
  2. Tiểu máu: cũng là triệu chứng thường gặp. Tiểu máu có thể thấy được bằng quan sát hoặc tiểu máu vi thể. Tuy nhiên có 10-15% không tiểu máu vi thể. Nguyên nhân do viêm nhiễm đường niệu hay sỏi di động làm vỡ các mao quản niêm mạc niệu.
  3. Tiểu đục: do viêm bàng quang, viêm thận ngược chiều hay do thận mủ. Các tinh thể trong nước tiểu cũng có thể gây tiểu đục.
  4. Thiểu niệu hoặc vô niệu do sỏi thận hai bên làm tổn thương nhu mô thận đưa đến suy thận hoặc sỏi thận trên thận độc nhất.
  5. Tiểu ra sỏi đôi khi tiểu ra những hòn sỏi nhỏ chiếm 6%.
  6. Tiểu dắt, tiểu buốt: do nhiễm trùng niệu làm viêm bàng quang.
  7. Triệu chứng toàn thân: có thể sốt cao lạnh run, buồn nôn hay nôn ói, phù toàn thân. Dấu hiệu sốt trong sỏi thận là tình trạng cấp cứu vì có nguy cơ dẫn đến choáng nhiễm trùng.
  8. Khám bụng: bụng chướng nhẹ, ấn đau nhiều vùng hông lưng bên thận có sỏi, dấu hiệu rung thận đau, nếu thận có nước chướng nhiều sẽ có dấu hiệu chạm thận, nếu thận ứ mủ sẽ có phản ứng thành bụng.

Xét nghiệm cận lâm sàng

  1. Xét nghiệm nước tiểu:

TPTNT là xét nghiệm đầu tiên phải làm. Nước tiểu có hồng cầu, bạch cầu và nhiều tinh thể.

Nếu nghi ngờ nhiễm trùng, tìm vi khuẩn và cấy nước tiểu làm kháng sinh đồ.

  1. Xét nghiệm máu:

Công thức máu: chủ yếu xác định tình trạng nhiễm trùng với bạch cầu tăng cao.

Ure, creatinine, ion đồ.

  1. Siêu âm (ultrasonography) : làm một xét nghiệm đơn giản, rẻ tiền, dễ thực hiện, ít xâm hại nhưng có độ nhậy cao 95%. Đánh giá có sỏi hay không có sỏi thận, vị trí sỏi, thận có chướng nước hay không, độ dày còn lại của nhu mô thận, đáng giá hình dạng của hai thận.

soi-than-2

Hình ảnh sỏi bể thận                         Hình ảnh sỏi san hô lấp kín bể thận

  1. Chụp hệ tiết niệu không chuẩn bị: đây là xét nghiệm cơ bản nhất của niệu khoa. Cho thấy có những hòn sỏi ở thận không, hình dạng, kích thước, số lượng, vị trí như thế nào và bóng thận to hay nhỏ. Tuy nhiên chỉ thấy được những sỏi có cảng quang.
  2. UIV: cho thấy những vị trí, hình dạng của sỏi, độ giãn nở của các đài thận, bể thận, độ to nhỏ của thận và chức năng bài tiết của cả hai thận.
  3. CTScan ( computer tomography) bụng có cảng quang, vừa để phân biệt sỏi niệu với bướu đường niệu, thấy được hình dạng, vị trí, kích thước sỏi thận, và đánh giá chức năng của hai thận, độ nhạy 97% và độ chuyên 96%.
  4. MRI (Magnetic resonance imaging) không chỉ phát hiện sỏi thận, đánh giá chức năng thận mà còn phát hiện những chỗ bế tắc ở đường niệu và những bất thường khác của thận, bể thận và niệu quản.
  5. Xa hình thận: rất cần thiết trong trường hợp chụp UIV thấy thận có sỏi kém chức năng hay câm để có tiên lượng cắt thận.

Điều trị

Điều trị sỏi thận khá phức tạp, phải kết hợp nội khoa và ngoại khoa

Trong trường hợp cấp cứu

Bệnh nhân vô niệu hay thiểu niệu: xét nghiệm ure, creatinine tăng cao, kali máu tăng cao. Trong trường hợp này cần phải chạy thận nhân tạo trước, để bệnh nhân ổn định. Sau đó chụp UIV hoặc CT scan và quyết định phẫu thuật lấy sỏi tùy theo vị trí sỏi.

Bệnh nhân sốt cao có hội chứng nhiễm trùng nặng hay thận ứ mủ: trong trường hợp này cần phải hồi sức bệnh nhân tích cực: kháng sinh, truyền dịch, hạ sốt, giảm đau và mổ cấp cứu dẫn lưu thận ra da tạm thời, đợi khi nào bệnh nhận ổn định sẽ phẫu thuật lấy hết sỏi sau đó.

Trong những trường hợp không cấp cứu:

ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA

        Điều trị nội khoa gồm các biện pháp phòng bệnh và sử dụng các thuốc để tránh sỏi tái phát.

  1. Điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu: đặc biệt với nữ giới hoặc trường hợp có dị tật bẩm sinh như bàng quang thần kinh ở trẻ nhỏ.
  2. Bệnh nhân cần uống nước đầy đủ mỗi ngày đảm bảo bài tiết trên 1,5 lít nước, tổ chức cuộc sống lành mạnh, có thời gian vận động lâng cao thể trạng.
  3. Hạn chế dùng những thức ăn sinh ra những tinh thể gây sỏi (calci, purine) hay chuyển hóa thiazide và orthophos phate đối với sỏi calci, allopurinol đối với sỏi uric.
  4. Thay đổi pH nước tiểu (kiềm cho loại uric và cysteine, toan cho nhiễm khuẩn và photphate calci)

ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA

+ Khi có bế tắc đường tiểu, nhiễm khuẩn.

+ Bất cứ phẫu thuật nào khi giải quyết sỏi thận cũng có những khó khăn và biến chứng.

+ Đôi khi cần sửa chữa dị tật bẩm sinh đường tiết niệu.

Nguồn: Internet

CHIA SẺ

0 BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN