NHẬN BIẾT NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐAU THẮT LƯNG Ở NGƯỜI CAO TUỔI
Thứ Ba 23/06/2020 02:22:27
Theo thống kê từ 1990 – 2010 trên thế giới, trung bình cứ 2 người thì có 1 người bị đau lưng. Tỉ lệ này tăng đến 57% ở các nước đang phát triển và chỉ 16% ở các nước phát triển. Đau lưng gây gánh nặng xã hội, đứng thứ 6 trong các dạng bệnh tật (kể cả bệnh gây tử vong và không gây tử vong). Theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ, cứ 5 người cao tuổi sẽ có 1 người bị đau, 18% những người trên 65 tuổi đang phải dùng thuốc giảm đau thường xuyên. Đau ở người cao tuổi gây giảm vận động, lo lắng, rối loạn giấc ngủ, trầm cảm, thậm chí bứt rứt, kích động, khiến người già không có khả năng tự chăm sóc... Việc chăm sóc bệnh đau lưng mãn tính ở người cao tuổi là một bài toán khó không chỉ với gia đình mà hệ thống y tế.  - Người cao tuổi (NCT) rất dễ mắc chứng đau thắt lưng. Đau thắt lưng có nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó có những nguyên nhân cần chữa trị nếu không sẽ gây biến chứng nặng nề cho người bệnh. Nguyên nhân Đau thắt lưng ở NCT phổ biến nhất là do thoái hóa xương khớp bởi sự lão hóa vì tuổi tác hoặc NCT trước đây đã từng bị chấn thương (do nghề nghiệp, chơi thể thao, tai nạn...), Hoặc NCT đã và đang có bệnh lý ở hệ tiết niệu (sỏi, u, lao thận…), bệnh lý của dạ dày (viêm, loét, u…). Trong đó, nguyên nhân do thoái hóa cột sống thắt lưng bởi tuổi tác hoặc do thoát vị đĩa đệm (hoặc là đơn thuần hoặc là kết hợp cả hai) là quan trọng hơn cả. Thoát vị đĩa đệm là tình trạng nhân nhầy đĩa đệm cột sống thoát ra khỏi vị trí bình thường trong vùng sợi chèn ép vào ống sống hay các rễ thần kinh sống. Ngoài ra, thoát vị đĩa đệm có thể do cấu tạo của ống sống. Hầu hết người trưởng thành có ống sống dạng tròn nhưng có một tỉ lệ thấp ống sống dạng hình lá dễ dàng bị thoát vị đĩa đệm hơn khi có các tác động cơ học (bưng bê vật nặng sai tư thế). Tỉ lệ nam giới bị thoát vị đĩa đệm cao hơn tỉ lệ nữ giới (nam khoảng trên 80%) và đặc biệt ở những đối tượng lao động chân tay, mang vác nặng, ngồi, đứng lâu. NCT thoát vị đĩa đệm còn có thể do bị loãng xương hoặc đã bị thoái hóa cột sống thắt lưng hoặc thoái hóa đĩa đệm hoặc cả hai (vừa thoái hóa cột sống thắt lưng vừa thoái hóa đĩa đệm). Thoái hóa cột sống thắt lưng và thoái hóa đĩa đệm chiếm đa số là do thoái hóa sinh lý (theo năm tháng, càng nhiều tuổi, tỉ lệ thoái hóa cột sống thắt lưng và thoái hóa đĩa đệm càng cao). Ngoài ra, các cơn đau của sỏi tiết niệu (sỏi thận, sỏi niệu quản), bệnh của thận (viêm, u, lao, ứ nước, ứ mủ…) thể hiện ngay ở vùng thắt lưng. Cơn đau của dạ dày hoặc âm ỉ, kéo dài hoặc cơn đau cấp đôi khi lan xuống vùng thắt lưng gây đau mỏi thắt lưng, nhất là người cao tuổi. Biểu hiện: Đau thắt lưng có thể là cấp tính hoặc đau ê ẩm kéo dài (mạn tính). Đau thắt lưng thường xảy ra ở vị trí 1/3 dưới lưng nằm giữa 2 gai mào chậu. Vị trí đau có thể ở chính giữa cột sống thắt lưng hay hai bên cột sống thắt lưng. Tùy theo mức độ của bệnh mà có sự lan tỏa khác nhau. Đau thắt lưng cấp tính, xảy ra đột ngột do tác động cơ học ngay tức thì như bưng bê vật nặng sai tư thế (bê chậu cảnh, xách xô nước, mang vác vật nặng sai tư thế hoặc vấp ngã…) gây co cơ thắt lưng cấp tính hoặc thoát vị đĩa đệm cấp hoặc lao động nặng quá mức hoặc cơn đau quặn thận do sỏi, viêm cấp, thận ứ nước, ứ mủ... Thoát vị đĩa đệm cấp tính xảy ra gây đau dữ dội, rất khó cử động hoặc thậm chí không cử động được phải nằm yên ở một vị trí. Thoát vị đĩa đệm cũng có thể xảy ra khi ngồi làm việc quá lâu do sai tư thế hoặc cúi lom khom một thời gian quá lâu (mặc dù cúi lom khom để làm việc không quá nặng). Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng cấp tính nếu không được điều trị dứt điểm, có nguy cơ chuyển thành mạn tính. Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng mạn tính có thể có những đợt cấp tính tái phát do một điều kiện thuận lợi nào đó, nhất là tác động cơ học. Đối với cơn đau thắt lưng cấp hay mạn tính do các bệnh khác gây nên (thận, dạ dày, túi mật…) khi giải quyết hết nguyên nhân, bệnh hết đau, đau thắt lưng cũng chấm dứt. Biến chứng của đau thắt lưng ở NCT, nếu nhẹ làm ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày (đứng lên, ngồi xuống, xoay mình khó khăn…), nếu do thoát vị đĩa đệm có thể gây đau dây thần kinh tọa, lâu dần gây teo cơ đùi, cẳng chân làm ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày (rối loạn đại tiểu tiện), để lại di chứng nặng nề (liệt). Có thể điều trị Nguyên tắc là điều trị giảm đau và điều trị nguyên nhân. Khó khăn nhất là điều trị đau thắt lưng do thoái hóa cột sống, đặc biệt là thoát vị đĩa đệm. Vì vậy, cần nghỉ ngơi, dùng thuốc giãn cơ, giảm đau, lý liệu pháp theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa khớp. Muốn làm tốt điều đó, khi thấy đau thắt lưng nên đi khám bệnh để được xác định nguyên nhân, đặc biệt là thoát vị đĩa đêm cấp tính cần được xử trí sớm, đúng chuyên môn. Tuyệt đối không nên để những người không có chuyên môn về y học điều trị cho mình với bất kỳ hình thức nào (kéo, nắn, dẫm đạp vùng thắt lưng…). Lời khuyên của thầy thuốc NCT không nên mang vác và bưng bê vật nặng nhất là làm sai tư thế. NCT không nên đứng ngồi lâu một chỗ (ngồi xem vô tuyến, đọc sách, viết…), phải có giải lao khoảng vài giờ một lần, kéo dài khoảng 10 phút để đi lại, vươn vai và làm các động tác thể dục nhẹ nhàng như: đứng lên, ngồi xuống, quay người... Khi đã có bệnh thoái hóa cột sống thắt lưng, bệnh về dạ dày, thận, gan mật…, cần tích cực chữa trị theo chỉ định của bác sĩ khám bệnh cho mình. Hàng ngày nên vận động cơ thể một cách đều đặn, bài bản theo hướng dẫn của bác sĩ điều trị. Bệnh viện Đa khoa Hà Đông – Đơn nguyên KCB Tự nguyện Đăng ký đặt khám: 0969 668 115

Xem Thêm

Bệnh sốt xuất huyết và cách phòng tránh
Thứ Sáu 29/05/2020 07:59:28
Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm gây dịch do vi rút Dengue gây nên.Bệnh xảy ra quanh năm, thường gia tăng vào mùa mưa. Bệnh gặp ở cả trẻ em và người lớn. Đặc điểm của sốt xuất huyết Dengue là sốt, xuất huyết và thoát huyết tương, có thể dẫn đến sốc giảm thể tích tuần hoàn, rối loạn đông máu, suy tạng, nếu không được chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời dễ dẫn đến tử vong.Vi rút Dengue có 4 týp huyết thanh là DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4. Vi rút truyền từ người bệnh sang người lành do muỗi đốt. Muỗi Aedes aegypti là côn trùng trung gian truyền bệnh chủ yếu. SXH có 3 giai đoạn sau: 1. Giai đoạn sốt 1.1. Lâm sàng - Sốt cao đột ngột, liên tục. - Nhức đầu, chán ăn, buồn nôn. - Da xung huyết. - Đau cơ, đau khớp, nhức hai hố mắt. - Nghiệm pháp dây thắt dương tính. - Thường có chấm xuất huyết ở dưới da, chảy máu chân răng hoặc chảy máu mũi. 1.2. Cận lâm sàng - Hematocrit (Hct) bình thường. - Số lượng tiểu cầu bình thường hoặc giảm dần (nhưng còn trên 100.000/mm3). - Số lượng bạch cầu thường giảm. 2. Giai đoạn nguy hiểm: Thường vào ngày thứ 3-7 của bệnh 2.1. Lâm sàng a) Người bệnh có thể còn sốt hoặc đã giảm sốt. b) Có thể có các biểu hiện sau: - Đau bụng nhiều: đau bụng nhiều và liên tục hoặc tăng cảm giác đau nhất là ở vùng gan. - Vật vã, lừ đừ, li bì. - Gan to > 2cm dưới bờ sườn, có thể đau. - Nôn ói. - Biểu hiện thoát huyết tương do tăng tính thấm thành mạch (thường kéo dài 24-48 giờ). + Tràn dịch màng phổi, mô kẽ (có thể gây suy hô hấp), màng bụng, phù nề mi mắt. + Nếu thoát huyết tương nhiều sẽ dẫn đến sốc với các biểu hiện vật vã, bứt rứt hoặc li bì, lạnh đầu chi, mạch nhanh nhỏ, huyết áp kẹt (hiệu số huyết áp tối đa và tối thiểu ≤ 20mmHg hoặc tụt huyết áp, không đo được huyết áp, mạch không bắt được, da lạnh, nổi vân tím (sốc nặng), tiểu ít. - Xuất huyết. + Xuất huyết dưới da: Nốt xuất huyết rải rác hoặc chấm xuất huyết thường ở mặt trước hai cẳng chân và mặt trong hai cánh tay, bụng, đùi, mạn sườn hoặc mảng bầm tím. + Xuất huyết niêm mạc như chảy máu chân răng, chảy máu mũi, nôn ra máu, tiêu phân đen hoặc máu, xuất huyết âm đạo hoặc tiểu máu. + Xuất huyết nặng: chảy máu mũi nặng (cần nhét bấc hoặc gạc cầm máu), xuất huyết âm đạo nặng, xuất huyết trong cơ và phần mềm, xuất huyết đường tiêu hóa và nội tạng (phổi, não, gan, lách, thận), thường kèm theo tình trạng sốc, giảm tiểu cầu, thiếu oxy mô và toan chuyển hóa có thể dẫn đến suy đa phủ tạng và đông máu nội mạch nặng. Xuất huyết nặng cũng có thể xảy ra ở người bệnh dùng các thuốc kháng viêm như acetylsalicylic acid (aspirin), ibuprofen hoặc dùng corticoid, tiền sử loét dạ dày-tá tràng, viêm gan mạn. - Một số trường hợp nặng có thể có biểu hiện suy tạng như tổn thương gan nặng/suy gan, thận, tim, phổi, não. Những biểu hiện nặng này có thể xảy ra ở người bệnh có hoặc không có sốc do thoát huyết tương. + Tổn thương gan nặng/suy gan cấp, men gan AST, ALT ≥ 1000U/L. + Tổn thương/suy thận cấp. + Rối loạn tri giác (sốt xuất huyết Dengue thể não). + Viêm cơ tim, suy tim, hoặc suy chức năng các cơ quan khác. 2.2. Cận lâm sàng - Cô đặc máu khi Hematocrit tăng > 20% so với giá trị ban đầu của người bệnh hoặc so với giá trị trung bình của dân số ở cùng lứa tuổi. Ví dụ: Hct ban đầu là 35%, SXHD có tình trạng cô đặc máu khi Hct hiện tại đo được là 42% (tăng 20% so với ban đầu). - Số lượng tiểu cầu giảm (<100.000/mm3) - AST, ALT thường tăng. - Trường hợp nặng có thể có rối loạn đông máu. - Siêu âm hoặc X quang có thể phát hiện tràn dịch màng bụng, màng phổi. 3. Giai đoạn hồi phục Thường vào ngày thứ 7-10 của bệnh 3.1. Lâm sàng - Người bệnh hết sốt, toàn trạng tốt lên, thèm ăn, huyết động ổn định và tiểu nhiều. - Có thể phát ban hồi phục hoặc ngứa ngoài da. - Có thể có nhịp tim chậm, không đều, có thể có suy hô hấp do quá tải dịch truyền. 3.2. Cận lâm sàng - Hematocrit trở về bình thường hoặc có thể thấp hơn do hiện tượng pha loãng máu khi dịch được tái hấp thu trở lại. - Số lượng bạch cầu máu thường tăng lên sớm sau giai đoạn hạ sốt. - Số lượng tiểu cầu dần trở về bình thường, muộn hơn so với số lượng bạch cầu. - AST, ALT có khuynh hướng giảm. Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm gây dịch do vi rút Dengue gây nên Sự nguy hiểm của bệnh sốt xuất huyết: Bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vắc xin phòng bệnh. Thường gây ra dịch lớn với nhiều người mắc cùng lúc làm cho công tác điều trị hết sức khó khăn, có thể gây tử vong nhất là với trẻ em, gây thiệt hại lớn về kinh tế, xã hội. Những biểu hiện của người mắc sốt xuất huyết Cách phòng bệnh sốt xuất huyết: Cách phòng bệnh tốt nhất là diệt muỗi, lăng quăng/ bọ gậy và phòng chống muỗi đốt. - Loại bỏ nơi sinh sản của muỗi, diệt lăng quăng/ bọ gậy bằng cách: + Đậy kín tất cả các dụng cụ chứa nước để muỗi không vào đẻ trứng. + Thả cá hoặc mê zô vào các dụng cụ chứa nước lớn (bể, giếng, chum, vại...) để diệt lăng quăng/ bọ gậy. + Thau rửa các dụng cụ chứa nước vừa và nhỏ (lu, khạp…) hàng tuần. + Thu gom, hủy các vật dụng phế thải trong nhà và xung quanh nhà như chai, lọ, mảnh chai, mảnh lu vỡ, ống bơ, vỏ dừa, lốp/ vỏ xe cũ, hốc tre, bẹ lá..., dọn vệ sinh môi trường, lật úp các dụng cụ chứa nước khi không dùng đến. + Bỏ muối hoặc dầu vào bát nước kê chân chạn/ tủ đựng chén bát, thay nước bình hoa/ bình bông. - Phòng chống muỗi đốt: + Mặc quần áo dài tay. + Ngủ trong màn/mùng kể cả ban ngày. + Dùng bình xịt diệt muỗi, hương muỗi, kem xua muỗi, vợt điện diệt muỗi... + Dùng rèm che, màn tẩm hóa chất diệt muỗi. + Cho người bị sốt xuất huyết nằm trong màn, tránh muỗi đốt để tránh lây lan bệnh cho người khác. - Tích cực phối hợp với chính quyền và ngành y tế trong các đợt phun hóa chất phòng, chống dịch. Khuyến cáo của bác sĩ đối với người bị bệnh sốt xuất huyết: Đưa ngay người bệnh đến cơ sở y tế để được khám, điều trị kịp thời. vệ sinh sạch sẽ các vũng nước đọng hoặc những nơi lăng quăng có thể phát triển, luôn luôn ngủ trong màn kể cả ban ngày tại nơi có dịch sốt xuất huyết. Người bệnh chỉ nên dùng thuốc giảm sốt theo đúng chỉ định của bác sĩ 4-5 lần/ngày, 5-6 giờ/lần. Nếu sử dụng thuốc hạ sốt quá liều liên tục sẽ dẫn đến tổn thương gan, kể cả thuốc hạ sốt nhét hậu môn đối với trẻ em. Để giảm sốt, người nhà nên cho bệnh nhân mặc đồ mỏng, nằm nơi thoáng mát, chườm khăn có thấm nước ấm.

Xem Thêm

CẦN LÀM GÌ ĐỂ ĐIỀU TRỊ VIÊM DA DỊ ỨNG
Thứ Sáu 29/05/2020 03:15:17
Viêm da dị ứng là bệnh ngoài da, không gây nguy hiểm tới tính mạng, những trường hợp viêm nhiễm nặng dẫn tới nhiễm khuẩn da, để lại sẹo gây mất thẩm mỹ. Do đó, nhận biết sớm các triệu chứng của viêm da dị ứng sẽ giúp nâng cao hiệu quả điều trị và phòng tránh bệnh. Bài viết được hỗ trợ tư vấn bởi Ths BS Vũ Đình Thám chuyên khoa da liễu BV đa khoa Hà Đông, Đơn nguyên KCB Tự nguyện Viêm da dị ứng là gì? Viêm da dị ứng là nhóm bệnh da thường gặp, luôn có tỷ lệ cao nhất trong các bệnh da ở các phòng khám chuyên khoa da liễu và trong nhân dân. Viêm da dị ứng là tình trạng dị ứng của cơ thể, là một khái niệm chung để chỉ các bệnh da có biểu hiện ban đỏ, sẩn đỏ, mụn nước, vết trợt loét, dày da, khô da bong vẩy da…bệnh thường xuyên có ngứa. Khi bị bệnh cần khám  ở cơ sở chuyên khoa da liễu để khám và điều trị kịp thời sẽ tránh được biến chứng của bệnh và trả lại làn da bình thường ban đầu. Các thể bệnh và nguyên nhân gây viêm da dị ứng * Viêm da dị ứng gồm nhiều thể bệnh khác nhau như bệnh chàm, viêm da cơ địa, viêm da tiếp xúc dị ứng hoặc thể bệnh thường gặp nhất có biểu hiện là những ban đỏ, sẩn đỏ thành mảng, thành đám trên da hoặc có khi có mụn nước.  Nhóm bệnh này xảy ra theo cơ chế dị ứng, có 2 yếu tố kết hợp là dị nguyên và cơ địa bệnh nhân * Viêm da dị ứng do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên, viêm da dị ứng xảy ra do 2 yếu tố kết hợp là dị nguyên và cơ địa người bệnh: - Dị nguyên:  rất đa dạng có thể từ ngoài vào bằng nhiều đường khác nhau như đường da, niêm mạc, đường hô hấp, tiêu hóa hoặc đường máu. Các loại dị nguyên: +  Thức ăn dễ gây dị ứng: tôm, cua nhộng, hải sản… + Sản phẩm từ công nghiệp như len vải, sợi, nhựa… + Thuốc dùng điều trị bệnh và hóa mỹ phẩm…. + Thời tiết thay đổi đặc biệt lúc giao mùa tác động vào cơ thể gây dị ứng. +  Môi trường có nhiều tác nhân gây dị ứng: lông súc vât, bụi, phấn hoa thực vật và các vi sinh vật…đều là những dị nguyên gây dị ứng Dị nguyên cũng có thể được sinh ra từ trong cơ thể như ở phụ nữ có thai do các sản phẩm chuyển hóa của quá trình thai nghén  hay những người bị bệnh gan làm chức năng gan giảm không khử độc được.  - Cơ địa người bệnh: có tính chất gia đình và di truyền, trong gia đình nếu bố mẹ, anh chị em ruột mắc các bệnh dị ứng da, viêm mũi dị ứng, hen phế quản, hay dị ứng thức ăn, thời tiết thì con em họ dễ bị mắc bệnh dị ứng hơn… Biểu hiện của viêm da dị ứng Tùy theo thể bệnh mà có biểu hiện khác nhau, nhưng triệu chứng sớm thường gặp ở người bị viêm da dị ứng là có ban đỏ mẩn đỏ và ngứa, rát tại vùng da có tổn thương, biểu hiện này có thể xảy ra sau khi ăn 1 loại thức ăn hoặc sau dùng thuốc, mỹ phẩm, sử dụng đồ dùng mới hay thời tiết thay đổi mà bị bệnh… Viêm da dị ứng có thể cấp tính hoặc mạn tính vì vậy những biểu hiện tiếp theo là sẩn đỏ, mụn nước, trợt loét, sưng phù tiết dịch, hay kèm theo mụn mủ, vẩy tiết hoặc dày da khô da bong vẩy da… Thương tổn da là từng mảng, từng đám, vệt dải, vị trí ở bất kỳ vùng da nào trên cơ thể: viêm da cơ địa thì thương tổn đối xứng nhưng viêm da do tiếp xúc thì bệnh xảy ra ở vùng da tại nơi tiếp xúc với chất lạ và in hình của vật tiếp xúc ấy. Việc chẩn đoán từng thể bệnh phải do bác sỹ chuyên khoa da liễu thực hiện, từ đó sẽ đưa ra phương pháp điều trị và phòng bệnh hiệu quả. Biến chứng Nếu không điều trị viêm da dị ứng không tự khỏi được, bệnh có thể lan rộng toàn thân, đôi khi có biến chứng nguy hiểm cho cơ thể. Tại vùng da tổn thương, có nhiễm trùng bội nhiễm mụn mủ, loét sâu khó điều trị,khi khỏi để lại sẹo trên da ảnh hưởng đến thấm mỹ của người bệnh.   Điều trị vêm da dị ứng Việc điều trị viêm da dị ứng trước tiên phải tìm đươc dị nguyên gây ra dị ứng như trình bày ở phần căn nguyên để loại trừ các tác nhân đó. tuy nhiên không phải lúc nào cũng tìm được để loại trừ song vẫn phải điều trị bệnh. Điều trị viêm da dị ứng cần kết hợp điều trị tại chố và toàn thân: Tại chỗ: tùy theo giai đoạn tiến triển của tổn thương da mà chọn dạng thuốc cho thích hợp như hồ nước, kem kẽm hoặc kem, mỡ corticoid, kháng sinh… Toàn thân: uống hoặc tiêm như thuốc kháng histamine để làm giảm triệu chứng ngứa, giảm đỏ da, giảm xung huyết phù nề ở tổn thương da; Thuốc kháng sinh để phòng và chống bội nhiễm vi khuẩ; Thuốc corticoid chống viêm chống dị ứng... việc dùng các thuốc trên tùy theo tình trạng bệnh và cần phải theo chỉ định của bác sỹ chuyên khoa da liễu ; Các thuốc hỗ trợ để nâng cao sức đề kháng của cơ thể. Phòng bệnh viêm da dị ứng. Việc phòng bệnh tốt nhất là tìm được căn nguyên gây dị ứng để loại trừ, người bệnh tự theo dõi để tìm nguyên nhân như thức ăn, thuốc, hóa mỹ phẩm, đồ dùng… - Không ăn các thức ăn được biết là gây dị ứng - Luôn giữ ấm về mùa lạnh, dùng khẩu trang, kính khi đi đường - Dùng thuốc theo chỉ định của bác sỹ - Thuôc bôi hoặc hóa mỹ phẩm cần bôi thử 1 vùng da nhỏ và kín trước. - Không tắm nước quá nóng, quá lạnh - Không chà xát gãi gây xước da khi bị bệnh da. - Đề phòng tiếp xúc của côn trùng vào phòng ở, vào quần áo và da… - Sử dụng một số chất dưỡng ẩm làm da mềm mại tăng sức đề kháng. 🔖KHUYẾN CÁO: ⚜️ Khi có dấu hiệu nhiễm bệnh không nên tự ý điều trị tại nhà mà cần theo dõi triệu chứng. ⚜️ Hãy đến gặp bác sĩ để được thăm khám và điều trị kịp thời. 💖Đơn nguyên KCB tự nguyện, bệnh viện Hà Đông 🌻Bác sĩ chuyên khoa Trung ương, giàu kinh nghiệm 🌻Khám tận tình - Hạn chế kháng sinh 🌻Không gian hiện đại, đầy đủ tiện nghi 🌻Hệ thống xét nghiệm, nội soi, chẩn đoán hình ảnh tân tiến 🌻Đặt lịch khám và thanh toán nhanh, không phải chờ lâu 🌻Phục vụ chu đáo, làm việc tất cả các ngày trong tuần. -------------------------------------------------- Bệnh viện Đa khoa Hà Đông - Đơn nguyên KCB tự nguyện 🏥 Số 2 Bế Văn Đàn, Quang Trung, Hà Đông, Hà Nội Điện thoại: 0969 668 115  

Xem Thêm

DẤU HIỆU NHẬN BIẾT BỆNH VIÊM TUYẾN TIỀN LIỆT
Thứ Sáu 22/05/2020 06:34:11
🔔🔔DẤU HIỆU CẢNH BÁO BỆNH VIÊM TUYẾN TIỀN LIỆT NAM GIỚI CẦN BIẾT🔔🔔 Thầy thuốc Ưu tú, Tiến sĩ: Nguyễn Thị Ánh Hường (Nguyên bác sỹ khoa Ngoại - BV Quân Y 103) Tư vấn chỉ ra những dấu hiệu của bệnh Viêm Tuyến tiền liệt. 💢 Viêm tuyến tiền liệt là tình trạng tuyến tiền liệt bị sưng hoặc viêm. Căn bệnh nguy hiểm này là nỗi “ám ảnh” của không ít đấng mày râu. Dấu hiệu nhận biết bệnh Viêm tuyến tiền liệt: Triệu chứng đau rát và tức: ở những vùng trên xương mu, bẹn bìu, tiểu khung và tầng sinh môn. Những triệu chứng bế tắc: tiểu khó, phải dặn, tiểu chậm (đi tiểu nhưng không được ngay) hoặc thậm chí bí tiểu Những rối loạn chức năng giao hợp: Rất đặc trưng như xuất tinh đau, xuất tinh ra máu. Có thể bị sốt cao trong trường hợp viêm cấp tính 💢💢Nam giới sẽ dễ mắc viêm tuyến tiền liệt nếu: ✔️Đang ở độ tuổi trung niên. ✔️Có tiền sử mắc viêm tuyến tiền liệt. ✔️Bị nhiễm trùng ở bàng quàng hoặc niệu đạo. ✔️Bị chấn thương vùng chậu. ✔️Uống quá ít nước. ✔️Có quan hệ không an toàn, lành mạnh. ✔️Bị nhiễm HIV/ AIDS. ✔️Thường xuyên căng thẳng, stress. ⚠️Tuy nhiên, dù không có các yếu tố gây bệnh trên nhưng một vài trường hợp nam giới vẫn sẽ có khả năng mắc bệnh. ❌❌Nếu không được phát hiện sớm và xử trí kịp thời, người bệnh có thể phải đối mặt với nhiều nguy cơ, biến chứng nguy hiểm. ĐẶT LỊCH KHÁM TỨ 7 HÀNG TUẦN: 0969.668.115 Thầy thuốc Ưu tú, Tiến Sĩ, BS: Nguyễn Thị Ánh Hường Nguyên Bác sĩ chuyên khoa Ngoại - Bệnh viện Quân Y 103 Tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông - Đơn nguyên KCB Tự nguyện để phát hiện sớm, điều trị kịp thời! ---------------- 💞Với phương châm“ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI BỆNH LÀ UY TÍN CỦA CHÚNG TÔI". 💞 ✅ Người bệnh đến khám, chữa bệnh được đón tiếp hướng dẫn, chăm sóc bởi đội ngũ y, bác sĩ chuyên sâu, trình độ cao, thân thiện. ✅ Thụ hưởng không gian phòng bệnh chất lượng cao, trang thiết bị hiện đại. ✅ Liên kết chặt chẽ của các bệnh viện tuyến trung ương, đầu tư hiện đại đồng bộ trang thiết bị y tế, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu. ✅ Tiết kiệm thời gian đi lại, không phải chờ đợi lâu. 🏠 Địa chỉ: Khoa khám bệnh - Bệnh viện đa khoa Hà Đông - Số 2 - Bế Văn Đàn - Quang Trung - Hà Đông - Hà Nội

Xem Thêm

Bệnh lao – vấn đề sức khỏe toàn cầu
Thứ Tư 15/04/2020 06:50:28
Bệnh lao – vấn đề sức khỏe toàn cầu   Như chúng ta đã biết, bệnh lao là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn lao gây nên, bệnh lây truyền chủ yếu qua đường hô hấp. Vi khuẩn lao do nhà bác học người Đức - Robert Kock là người đầu tiên công bố tìm ra vào ngày 24 tháng 03 năm 1882 đến nay đã được hơn 138 năm. Nguồn lây chính của bệnh lao là những bệnh nhân lao phổi có vi khuẩn lao trong đờm. Người bị lây do hít phải vi khuẩn lao của bệnh nhân lao phổi bắn ra môi trường xung quanh khi ho, khạc, hắt hơi, hoặc khi tiếp xúc trong thời gian dài và liên tục. Lao là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và còn đáng sợ hơn khi lây lan dễ dàng ra cộng đồng nếu bệnh nhân không được chữa trị đúng cách. Bệnh lao là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 2 trong các bệnh nhiễm trùng, với khoảng 10 triệu bệnh nhân lao mới hàng năm và gần 1,5 triệu người tử vong do lao trên toàn cầu. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2019, ước tính số liệu năm 2018, Việt Nam có 174.000 người mắc lao mới. Chương trình Chống lao Quốc gia hiện đã phát hiện được khoảng hơn 100.000 người mắc lao, khoảng 20.000 người được phát hiện đã điều trị tại khu vực y tế tư nhân nhưng không báo cáo với chương trình, còn lại khoảng 50.000 bệnh nhân chưa được phát hiện. Số người chết do lao năm 2018 ở Việt Nam ước tính là 11.000 người và có thêm 2.000 người chết vì Lao/HIV. Tuy nhiên, bệnh lao có thể phòng và chữa được nếu được phát hiện kịp thời. Những người mắc bệnh lao thường có các biểu hiện: Ho kéo dài trên 2 tuần (ho khan, ho có đờm hoặc ho ra máu). Người bệnh gầy sút, kém ăn, mệt mỏi, sốt nhẹ về chiều, ra mồ hôi "trộm" ban đêm, kèm theo đau ngực, đôi khi khó thở. Khi có các biểu hiện trên, người bệnh cần đến khám và xét nghiệm tại các cơ sở y tế sớm nhất. Các triệu chứng của bệnh lao phổi           Việt Nam hiện vẫn nằm trong 30 quốc gia có bệnh lao và lao kháng đa thuốc cao nhất thế giới và đặt ra mục tiêu chấm dứt bệnh lao tại Việt Nam vào năm 2030, tức là với dân số 100 triệu thì cả nước chỉ còn 1.000 người mắc lao một năm.   Việt Nam đặt mục tiêu chấm dứt bệnh lao vào năm 2030 Từ tháng 08/2018, Tổ chống lao Bệnh viện Đa khoa Hà Đông được thành lập đã phối hợp hoạt động chặt chẽ với chương trình chống lao thành phố Hà Nội: Khám sàng lọc bệnh nhân lao trung bình hàng tháng từ 60 đến 100 bệnh nhân, đến hết tháng 02/2020 đã phát hiện được 229 ca bệnh lao mới. các bệnh nhân đều được chuyển đến các trung tâm điều trị lao hoặc được đăng ký điều trị tại bệnh viện. Bệnh nhân có nhu cầu tư vấn kỹ hơn về bệnh lao xin liên hệ: Khoa Hô hấp và bệnh phổi, bệnh viện đa khoa Hà Đông. Số điện thoại: 02433.517.380

Xem Thêm

Những điều cần lưu ý trong điều trị phẫu thuật gẫy liên mấu chuyển xương đùi ở người cao tuổi
Thứ Tư 15/04/2020 06:44:47
Gẫy liên mấu chuyển( LMC) xương đùi ở người cao tuổi rất hay gặp , nữ nhiều hơn nam. Tại Mỹ, mỗi năm có khoảng  200.000 ca gẫy liên mấu chuyển xương đùi và tỷ lệ tử vong lên tới 15 - 30% và chi phí điều trị khoảng 10 tỷ USD một năm. Tại Việt nam, tuy chưa có thống kê chính thức về số lượng và tỷ lệ loại gẫy này nhưng chắc chắn rằng số lượng gẫy liên mấu chuyển xương đùi cũng nhiều và có xu hướng ngày càng tăng. Trong nhiều năm vừa qua tại khoa chấn thương chỉnh hình, bệnh viện đa khoa Hà Đông đã phẫu thuật cho nhiều bệnh nhân gẫy liên mấu chuyển xương đùi, bệnh nhân cao tuổi nhất là 103 tuổi.   ThS. BSCKII Trần Quang Toản - trưởng khoa Chấn thương chỉnh hình đã đưa ra một số lưu ý sau: Bệnh nhân cao tuổi gẫy liên mấu chuyển xương đùi có loãng xương sẽ ảnh hưởng đến sự liền xương, quá trình liền xương lâu hơn rất nhiều so với những người khác. Theo thống kê của IOF có tới 1/3 phụ nữ và 1/5 nam giới trên 50 tuổi có nguy cơ mắc phải loãng xương. Vì vậy đối với người cao tuổi gẫy liên mấu chuyển xương đùi, việc khảo sát mật độ xương là cần thiết để góp phần quyết định phương pháp phẫu thuật và lựa chọn vật liệu điều trị. Tại bệnh viện đa khoa Hà đông đã có phương pháp đo DEXA, là kỹ thuật tốt nhất do mật độ xương được ứng dụng trên lâm sàng. Năm 2003 WHO coi kỹ thuật DEXA là tiêu chuẩn vàng để chuẩn đoán loãng xương. Bác sĩ khoa Chấn thương chỉnh hình kiểm tra cho bệnh nhân sau phẫu thuật gẫy liên mẫu xương đùi        Gẫy liên mấu chuyển xương đùi có nhiều phương pháp điều trị khác nhau       Đối với bệnh nhân trẻ, chất lượng xương tốt thì chú trọng phương pháp kết xương bên trong, nhưng đối với những bệnh nhân cao tuổi có loãng xương thì chủ trương thay khớp háng bán phần. Các bác sĩ nhận thấy: Trong kết xương nẹp DHS thì bắt vít cố định khối cổ chỏm cần phải khoan lỗ khoan định hướng kích thước lớn xuyên qua cả cổ vào chỏm. Trong khi bệnh nhân có loãng xương vùng cổ chỏm thì việc khoan lỗ rộng tàn phá tổ chức xương vùng cổ chỏm sẽ làm chậm sự liền xương thậm chí không liền xương do mất các cầu xương trong lòng tủy cổ khả năng tự phục hồi là rất kém dẫn tới cổ chỏm mất vững, làm tiêu cổ chỏm, gập góc cổ thân. Nếu sử dụng nẹp vít khóa có ưu điểm hơn nẹp DHS vì nẹp khóa có vị trí cố định xương đa điểm và đa hướng do vít ngoài việc bắt vào xương còn có vòng ren cố định vào nẹp vít bắt vào cổ xương đùi nhỏ nên giảm tổn thương các cầu xương trong tủy cổ, chỏm trong trường hợp bệnh nhân loãng xương thì việc bắt vít vào vùng xương yếu lỏng lẻo sẽ dẫn đến cố định không vững chắc, không liền xương từ đó không thể vận động sớm, gây thiếu xương quanh chân vít, làm lỏng nẹp gây lên các biến chứng sau mổ ...               Xuất phát từ sự đánh giá theo dõi bệnh nhân sau mổ , chúng tôi nhận định tác nhân góp phần vào thất bại của các phương pháp trên là do tình trạng loãng xương vùng đầu trên xương đùi vì vậy cần phải có sự khảo sát mật độ xương trước khi phẫu thuật. Tại khoa chấn thương chỉnh hình đã chủ động chỉ định phẫu thuật thay khớp háng bán phần có xi măng cho những bệnh nhân gẫy liên mấu chuyển xương đùi từ 70 tuổi trở lên, qua theo dõi nhận thấy là cần thiết giúp cho bệnh nhân vận động sớm, giảm các biến chứng do phải nằm lâu, nâng cao chất lượng cuộc sống giảm bớt gánh nặng cho người thân. Để điều trị dự phòng và phòng ngừa loãng xương sau phẫu thuật, bệnh nhân cần bổ sung vitamin D và calci qua ăn uống, tắm nắng và uống thuốc: Fosamax Plus 70mg  x  1 viên /tuần x 12 tháng uống với nhiều nước trước ăn sáng 30 phút. Bệnh nhân có nhu cầu tư vấn kỹ hơn về điều trị phẫu thuật gẫy liên mấu xương đùi xin liên hệ: Khoa Chấn thương chỉnh hình, bệnh viện đa khoa Hà Đông. Số điện thoại: 02433.646.370 Hoặc tư vấn trực tiếp ThS. BSCKII Trần Quang Toản - trưởng khoa Chấn thương chỉnh hình. Số điện thoại: 0967.695.886

Xem Thêm

Điều trị loét vùng cùng cụt do nằm bất động lâu ngày
Thứ Tư 15/04/2020 06:43:12
Loét tỳ đè vùng cùng cụt là tình trạng bệnh lý xảy ra ở những bệnh nhân nằm bất động lâu ngày, loét có thể xảy ra ở bất cứ nơi tỳ đè nào của cơ thể nhưng hay gặp nhất là vùng cùng cụt và ụ ngồi. Loét chiếm tỉ lệ khoảng 60% ở các BN bị tổn thương tủy sống có liệt, 65% ở các bệnh nhân bị gãy xương đùi, 20-30% ở bệnh nhân bỏng nặng, bệnh nhân nằm ICU( phòng hồi sức) dài ngày. Do lực tì đè quá mức bình thường dài (4h sẽ gây hoại tử cơ, 12h sẽ gây hoại tử da). Ngoài ra các yếu tố như: dinh dưỡng, tình trạng bệnh lí, tình trạng nhiễm trùng... ảnh hưởng lớn đến tiến trình của loét. Tình trạng ổ loét chia thành 5 giai đoạn dựa vào các dấu hiệu lâm sàng: Giai đoạn 1: Tổn thương thượng bì, da ửng đỏ, có nốt phỏng hay vết chợt da. Giai đoạn 2: Tổn thương toàn bộ da. Giai đoạn 3: Tổn thương lớp mô dưới da. Giai đoạn 4: Tổn thương tới xương. Giai đoạn 5: Tổn thương tới xương và tạo nhiều hốc lớn. Tổn thương từ giai đoạn 3 trở lên đã có chỉ định phẫu thuật tạo hình che phủ ổ loét bằng vạt da có cuống mạch liền. Để đạt kết quả điều trị cần sự phối hợp nhiều phương pháp khác nhau, trong đó phẫu thuật che phủ ổ loét bằng chất liệu mô mềm tự thân có vai trò quan trọng trong lành vết thương và ngăn ngừa loét tái phát. Năm 1993, Koshima lần đầu tiên áp dụng vạt da nhánh xiên động mạch mông trên che phủ cho 8 BN loét cùng cụt cho kết quả tốt. Từ năm 2019, khoa Chấn Thương Chỉnh Hình, Bệnh Viện Đa Khoa Hà Đông chúng tôi đã áp dụng vạt da nhánh xiên động mạch mông trên điều trị cho bệnh nhân loét cùng cụt.Vạt da nhánh xiên động mạch mông trên được sử dụng dưới dạng vạt có cuống mạch liền, với cuống mạch dài góc xoay rộng chep hủ được các ổ loét lớn thêm vào đó vùng bóc vạt được đóng kín trực tiếp.Trong điều kiện chưa có doppler mạch để xác định vị trí mạch chúng tôi vẫn mạnh dạn thực hiện kĩ thuật này và đạt kết quả tốt không có vạt nào hoại tử. Có được kết quả này do chúng tôi dựa vào tính hằng định của động mạch và tuân thủ nguyên tắc khi bóc vạt nhánh xiên.                 Hình ảnh trước và sau khi tạo hình che phủ vết loét vùng cùng cụt Điều trị phẫu thuật che phủ ổ loét vùng cùng cụt từ giai đoạn 3 trở lên bằng vạt da cân có độ dày vừa đủ che phủ hết diện tích khuyết hổng, nơi cho vạt được khâu kín da thì đầu, vạt nhánh xiên động mạch mông trên là một lựa chọn hợp lý và hiệu quảtrong điều trị loét vùng cùng cụt. Bệnh nhân có nhu cầu tư vấn kỹ hơn về điều trị loét vùng cùng cụt do nằm bất động lâu ngày, xin liên hệ: Khoa Chấn thương chỉnh hình, bệnh viện đa khoa Hà Đông. Số điện thoại: 02433.646.370 Hoặc tư vấn trực tiếp ThS. BSCKII Trần Quang Toản - trưởng khoa Chấn thương chỉnh hình. Số điện thoại: 0967.695.886

Xem Thêm

Xét nghiệm điện di huyết sắc tố
Thứ Ba 14/04/2020 11:53:32
  Huyết sắc tố (Hemoglobin- Hb), là một protein phức tạp có chứa Fe++, ở trong hồng cầu và chiếm 33% trọng lượng hồng cầu.Huyết sắc tốlàm nhiệm vụ vận chuyển oxy từ phổi đến tổ chức và vận chuyển cacbonic từ tổ chức về phổi. Hb là đại phân tử gồm có hai thành phần là hem và globin. Có nhiều loại huyết sắc tố khác nhau tùy thuộc vào giai đoạn phát triển của cơ thể: giai đoạn phôi, giai đoạn thai, giai đoạn sau sinh. Những loại huyết sắc tố bình thường giai đoạn sau sinh là: HbA, HbA2, HbF. Ngày nay người ta phát hiện được nhiều loại huyết sắc tố bất thường (> 700 loại) như HbH, Hb Bart’s, HbE, HbS, HbC, HbD, HbI,...tạo ra các thể khác nhau của bệnh lý huyết sắc tố. 1. Xét nghiệm Điện di huyết sắc tố (XN Điện di hemoglobin): Là một xét nghiệm để đánh giá thành phần và tỷ lệ các loại hemoglobin trong máu. XN điện di hemoglobin có giá trị trong chẩn đoán và sàng lọc bệnh lý huyết sắc tố. 2. Xét nghiệm Điện di huyết sắc tố khi nào? XN điện di hemoglobin nên thực hiện khi: - Xét nghiệm “tổng phân tích tế bào máu” có biểu hiện hồng cầu nhỏ nhược sắc (MCV < 85 fL và MCH < 28 pg). - Thiếu máu hồng cầu nhỏ không liên quan đến giảm sắt, bệnh lý mạn tính, hoặc ngộ độc chì.  - Thiếu máu tan máu không giải thích được. - Trong gia đình có người có bệnh lý hemoglobin/bệnh Thalassemia. - Những người chuẩn bị kết hôn và sinh con cũng nên sàng lọc bệnh Thalassemia 3. Xét nghiệm điện di huyết sắc tố nên chuẩn bị gì trước? Xét nghiệm này không cần phải chuẩn bị gì đặc biệt. Nhưng trước khi làm hãy báo cho bác sĩ biết bạn có: + Đang bị thiếu máu thiếu sắt và đang trong quá trình điều trị bệnh này hay không. Vì thiếu máu thiếu sắt có thể làm cho trị số hemoglobin A2 đo được không chính xác. + Có truyền máu trong vòng 3 tháng vừa qua không, vì nó cũng có thể làm sai kết quả xét nghiệm. 4. Cách lấy mẫu, thời gian trả kết quả: - 2 ml máu, có chống đông EDTA. - Mẫu nhận 24/24h. Các mẫu nhận trước 9h thứ 6 sẽ trả kết quả vào 16h thứ 6 cùng ngày. 5. Kết quả bình thường: nồng độ hemoglobin bình thường theo lứa tuổi Lứa tuổi HbA (%) HbA2 (%) HbF (%) Sơ sinh 20 ÷ 40 0,03 ÷ 0,6 60 ÷ 80 02 tháng 40 ÷ 70 0,9 ÷ 1,6 30 ÷ 60 04 tháng 80 ÷ 90 1,8 ÷ 2,9 10 ÷ 20 06 tháng 93 ÷ 97 2,0 ÷ 3,0 1,0 ÷ 5,0 01 tuổi 97 2,0 ÷ 3,0 0,4 ÷ 2,0 > 05 tuổi 97 2,0 ÷ 3,0 0,4 ÷ 2,0 Người trưởng thành 96 ÷ 98 0,5 ÷ 3,5 <1   6. Ứng dụng xét nghiệm điện di huyết sắc tố: chẩn đoán bệnh lý huyết sắc tố (HbS. HbC…), bệnh Thalassemia. Bộ xét nghiệm sàng lọc Thalassemia gồm: - Tổng phân tích tế bào máu ngoại vi - Định lượng sắt huyết thanh, ferritin huyết thanh - Điện di huyết sắc tố   ThS.BSCKII. Nguyễn Hương Liên, trưởng khoa Huyết học - Truyền máu, Bệnh viện đa khoa Hà Đông khuyến cáo, để phòng bệnh Thalassemia: + Các đôi nam nữ nên được khám và xét nghiệm bệnh Thalassemia trước khi kết hôn. + Nên được các bác sĩ chuyên khoa tư vấn về bệnh Thalassemia khi nghi ngờ mang gen hoặc mắc bệnh Thalassemia. + Khi phát hiện 1 người bệnh Thalassemia hoặc 1 người mang gen bệnh thì tất cả các thành viên trong gia đình cần được sàng lọc Thalassemia. + Nếu cả 2 người cùng mang gen bệnh Thalassemia kết hôn với nhau, nên được tư vấn trước khi dự định có thai. + Nếu cặp vợ chồng cùng mang gen bệnh Thalassemia có thai, nên được chẩn đoán trước sinh khi thai được 12 - 18 tuần, tại các cơ sở y tế chuyên khoa. Dưới đây là hình kĩ thuật viên của khoa Huyết học - Truyền máu thực hiện xét nghiệm điện di huyết sắc tố tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông: Các xét nghiệm điện di huyết sắc tố được thực hiện thường xuyên tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông. Bệnh nhân có nhu cầu tư vấn kỹ hơn về xét nghiệm điện di huyết sắc tố cũng như bệnh Thalassemia xin liên hệ: Khoa Huyết học - Truyền máu, tầng 2 nhà E, bệnh viện đa khoa Hà Đông. Số điện thoại: 02433.528.203 Hoặc tư vấn trực tiếp BSCKII. Nguyễn Thị Hương Liên, trưởng khoa Huyết học - Truyền máu, số điện thoại: 0986.021.848

Xem Thêm

Dinh dưỡng tăng cường sức đề kháng trong mùa dịch cúm Covid- 19 (nCoV)
Thứ Ba 25/02/2020 15:45:12
Virus Corona chủng mới gây viêm đường hô hấp cấp (tên chính thức là COVID-19 (nCoV)) đang hoành hành, khiến người mắc bệnh có các biểu hiện như ho, sốt và khó thở, suy yếu nội tạng... Do đây là bệnh viêm phổi do virus, thuốc kháng sinh không có tác dụng, các loại thuốc chống virus hiện tại được dùng cho bệnh cúm thông thường cũng không hiệu quả; cách tốt nhất là nâng cao sức đề kháng của cơ thể để có thể tiêu diệt virus lạ này ngay từ khi mới xâm nhập cơ thể khiến chúng không có cơ hội gây bệnh. Tuy nhiên hiện nay, việc sử dụng tràn lan các chế phẩm, thực phẩm  tăng cường sức đề kháng cũng không có lợi cho sức khỏe . Thực phẩm bao gổm  thực phẩm chức năng và thực phẩm tự nhiên đều nên sử dụng đúng cách,  bảo đảm nguyên tắc đủ thành phần các chất dinh dưỡng đa lượng và vi lượng và đa dạng thực phẩm trong bữa ăn. Nguyên tắc đầu tiên để tăng cường sức đề kháng là chế độ ăn phải đảm bảo đủ và cân đối các nhóm thực phẩm . Việc đảm bảo đủ thành phần các nhóm thức ăn  giúp cung cấp đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng đa lượng là đạm, đường, béo và vi lượng là vitamin và các chất khoáng. Các chất đa lượng là đạm đường béo đóng vai trò cung cấp năng lượng và cấu trúc nên tế bào cơ thể, bao gồm cả các tế bào đóng vai trò miễn dịch.  Các chất vi lượng như vitamin và chất khoáng là chất xúc tác và môi trường cho các phản ứng sinh học của các tế bào. Nên muốn cơ thể khỏe mạnh cần một chế độ ăn cân đối và hợp lý. Theo khuyến cáo của Viện dinh dưỡng Quốc gia với người trưởng thành thực đơn nên được phân bố như sau   Nguyên tắc thứ hai là đa dạng thực phẩm trong bữa ăn, tạo nên cầu vồng rau củ trong mỗi bữa ăn. Mỗi loại rau có chất chống oxy hóa và kháng sinh tự nhiên riêng và hàm lượng chất khoáng, vitamin khác nhau . Nhóm rau củ màu tím có Anthrocyanin, nhóm rau củ màu vàng đỏ chứa lutein, betacaroten, nhóm rau củ màu xanh có Chlorophyll và Lycopene, Zeaxanthine,  nhóm rau củ màu trắng như củ cải, súp lơ trắng  có chứa nhiều Anthroxanthine  Mỗi ngày, mỗi bữa nên thay đổi màu sắc của rau củ. Các loại thịt và tinh bột cũng nên thay đổi mỗi bữa, mỗi ngày đảm bảo đa dạng thực phẩm. Nguyên tắc thứ ba là uống đủ nước, nước đóng vai trò quan trọng trong mọi phản ứng của cơ thể,chiếm  60 % thành phần cơ thể. Thiếu nước dẫn tới khô niêm mạc, và giảm các phản ứng bảo vệ cơ thể. Nên bổ sung nước 40 ml/ kg cân nặng ngày và uống chậm từng ngụm một. Với đối tượng suy thận và bệnh tim mạch tham khảo bác sĩ để uống đủ nước Một số thực phẩm tăng cường miễn dịch Nhóm thực phẩm giàu vitamin C : Nhu cầu vitamin C hàng ngày 150- 200 mg (1). Trong đợt nhiễm khuẩn, nhiễm virus cấp tính có thể bổ sung 1000 mg  trong 4-5 ngày theo chỉ định của bác sĩ. Chế độ ăn cân đối đã đảm bảo đủ nhu cầu vitamin C một ngày và cam chanh không phải là thực phẩm chứa nhiều vitamin C nhất. Theo bảng thành phần dinh dưỡng các thực phẩm Việt Nam 2007 của viện dinh dưỡng quốc gia thì hàm lượng vitamin C trong thực phẩm là như sau (2): Tên thực phẩm Vitamin C ( mg)/ 100g Rau ngót 180 mg Cần tây 150 mg Kinh giới, ớt chuông, bưởi 90-110 mg Rau giền đỏ, rau đay, mồng tơi, súp lơ, diếp cá 70-80 mg Cam, chanh, quýt, nho, ổi, rau thơm 40 – 50 mg Từ bảng trên cho thấy chế độ ăn chỉ cần 3 lưng bát con rau một ngày, 2 quả cam, ba quả quít, 6 múi bưởi trung bình đã đủ nhu cầu vitamin C 1 ngày. Nhóm thực phẩm giàu vitamin A và tiền chất của vitamin A là Betacaroten Vitamin A và Betacaroten có tác dụng tặng cường miễn dịch. Tuy nhiên nhu cầu Vitamin A chỉ 700- 900 µg/ 1 ngày qui ra Betacaroten trong thực phẩm là 8400µg – 10000 µg/ ngày (1) . Sử dụng quá nhiều Betacaroten có thể dẫn tới vàng da, còn quá nhiều vitamin A có thể gây ngộ độc, cho nên không tùy tiện sử dụng các loại vitamin A đường uống, và ăn các thực phẩm nhóm này với số lượng vừa đủ. 1 tuần chỉ nên ăn gan động vật 1 lần, 20g gấc, 250 – 400 g rau tương đương với 3 lưng bát con rau,  1 củ cà rốt 200g, 2 quả trứng đã đáp ứng đủ nhu cầu vitamin A và Betacaroten 1 ngày Thực phẩm giàu Betacaroten (2) µg/ 100g thực phẩm Gấc 52520 Rau ngót, ớt, cà rốt, ớt chuông, tía tô 5000 – 6000 Dưa hấu, rau giền đỏ, kinh giới, rau thơm 4000- 5000 Đu đủ chín, xoài, hồng,  dưa bở 2000-3000 Các loại rau xanh 1500-2000   Thực phẩm giàu vitamin A (2) µg/ 100g thực phẩm Gan động vật 5000- 7000 Trứng 700-800 Sữa và các loại thịt 150 – 200   Nhóm thực phẩm giàu kẽm : Kẽm có vai trò rất quan trọng với miễn dịch. Nhu cầu hàng ngày 10 mg với người hấp thụ tốt 15-20 mg với người hấp thụ kém (1) Sò, hàu : 13- 14 mg/100g Các loại thịt, hải sản : 1,5- 2,2 mg/ 100g Các loại đậu : 3,5 – 4 g/100g Tỏi (3): Chứa nhiều chất kháng sinh Allicin, giúp chống lại các virut gây bệnh, Chứa hàm lượng lớn các vitamin A, B, C, D Nên ăn từ 2-5g tỏi tươi/ngày hoặc 1-2 g tỏi khô  tương đương 1-2 nhánh tỏi Nên ăn cùng bữa ăn, không ăn khi đang đói, khi bị tiêu chảy hoặc bị dị ứng với tỏi Nên ăn tỏi sống hoặc ở nhiệt độ dưới 80⁰C vì khi nấu sẽ làm giảm tác dụng của tỏi Nên sử dụng tỏi sau khi đập dập hoặc băm nhuyễn từ 10-15 phút để tỏi có tác dụng Chú ý: Thận trọng khi sử dụng số lượng nhiều với những bệnh nhân sử dụng Aspirin, Paracetamol, thuốc chống đông, chống ngưng tập tiểu cầu, thuốc tiểu đường, không nên sử dụng cùng với thực phẩm: Sâm, gừng, lá cây bạch quả, cỏ thơm. Gừng (3) :  Có nhiều các tinh dầu tự nhiên như gingerol, zingiberene, eicosanoide Nên dùng từ 0,5 -1 g / 1 lần x  3 lần một ngày, tương đương với 5 lát gừng thái mỏng, hoặc đập dập, pha với nước ấm Dùng quá 6g / 1 ngày có thể gây viêm niêm mạc dạ dày Gừng có tác dụng hạ đường máu, và giảm đông máu, tăng nhịp tim nên tham khảo bác sĩ dinh dưỡng khi đang điều trị bệnh đái tháo đường và tim mạch Gừng gây co bóp túi mật nên bệnh nhân sỏi túi mật không nên dùng nhiều  vì kích thích gây cơn đau. Bông cải xanh : Chứa nhiều Suforaphane có tác dụng ức chế sự nhân lên của virus, và tác dụng tốt bảo vệ niêm mạc đường hô hấp Giàu vitamin C, vitamin A, Beta caroten Tuy nhiên không nên chỉ ăn mỗi bông cải xanh hằng ngày mà nên thay đổi các loại rau. Theo BSCK I.  Nguyễn Anh Dũng - Trưởng khoa dinh dưỡng   Bệnh viện đa khoa Hà Đông, mỗi người, mỗi bệnh lý cần một chế độ dinh dưỡng cụ thể khác nhau, đặc biệt đối tượng trẻ em và phụ nữ có thai,  người đang mắc các bệnh lý mãn tính như Đái Tháo Đường, Suy thận, các bệnh lý tim mạch, xương khớp. Người bệnh có nhu cầu có thể đến tư vấn tại Khoa dinh dưỡng bệnh viện đa khoa Hà Đông để có thực đơn cũng như chỉ định bổ sung các sản phẩm dinh dưỡng chuyên biệt phù hợp Nguồn : 1. Bộ Y Tế - Viện Dinh Dưỡng. Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam. Nhà xuất bản Y Học, 2016. 2. Bộ y tế - Viện dinh dưỡng . Bảng thành phẩm thực phẩm Việt Nam. Nhà xuất bản Y Học, 2007. 3. Jennifer Jamison . Clinical guide to Nutrition & Dietary supplements in Disease Management .Churchill Livingstone, 2003.  

Xem Thêm

Bệnh liệt mặt - Không khó chữa
Thứ Sáu 14/02/2020 09:51:12
Liệt mặt (Liệt dây thần kinh số VII) ngoại biên là tình trạng mất vận động hoàn toàn hay một phần các cơ của nửa mặt do tổn thương dây thần kinh mặt cùng bên gây nên. Liệt mặt ngoại biên là bệnh lý thường gặp, không phân biệt giới tính, độ tuổi. Bệnh tuy không nguy hại đến tính mạng người bệnh nhưng ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt và thẩm mỹ trên khuôn mặt, tác động đến tâm lý, làm người bệnh mất tự tin trong các hoạt động giao tiếp xã hội, khó khăn trong các hoạt động cộng đồng. Bệnh liệt dây thần kinh mặt ngoại biên cần phân biệt với liệt mặt do tai biến mạch máu não, đó có thể là dấu hiệu sớm của liệt nửa người. v Triệu chứng, chẩn đoán: Chẩn đoán xác định liệt mặt ngoại biên chủ yếu dựa vào lâm sàng; một số xét nghiệm cận lâm sàng có thể hỗ trợ chẩn đoán nguyên nhân. Triệu chứng: Cơ mặt 1 bên yếu liệt, xệ xuống gây nên tình trạng mất cân xứng giữa hai bên. Khi nghỉ ngơi: Bên bệnh có biểu hiện lông mày hạ thấp hơn, khe mắt rộng hơn, nhắm không kín, thường chảy nước mắt nhiều hơn; rãnh mũi má mờ; mép và má xệ xuống; nhân trung lệch về bên lành. Hình ảnh biểu hiện và cơ chế bệnh liệt mặt (nguồn: Internet) Biểu hiện liệt mặt sẽ rõ hơn khi bệnh nhân thực hiện một số động tác: nhăn trán (nếp nhăn trán bên liệt mờ hơn), nhắm mắt (mắt bên liệt nhắm không kín), mỉm cười (miệng lệch sang bên lành). Bệnh nhân khó thực hiện các động tác huýt sáo, thổi lửa và ăn uống thường bị rơi vãi, đọng thức ăn ở bên liệt. Trường hợp liệt mặt kín đáo, thầy thuốc có thể thực hiện thêm các nghiệm pháp để chẩn đoán chính xác hơn. Các biểu hiện khác: Người bệnh thường gai rét, sợ lạnh, kèm theo đau đầu, đau mỏi vai gáy v Nguyên nhân: Nguyên nhân thường gặp nhất là do lạnh (chiếm trên 80%) dẫn tới co thắt mạch nuôi dây thần kinh VII gây ra thiếu máu cục bộ, phù và chèn ép dây thần kinh ở đoạn trong ống Fallope. Bệnh thường xảy ra đột ngột sau khi bệnh nhân gặp lạnh, đặc biệt là khi chuyển từ nóng sang lạnh: ban đêm ngủ nằm điều hòa lạnh, có gió lùa, sau khi tắm vào phòng điều hòa lạnh, ngồi trên xe ô tô, xe bus mở điều hòa lạnh, tắm nước lạnh sau khi vận động ra mồ hôi,…Trước đây, bệnh thường xảy ra vào mùa thu-đông và đông-xuân do thời tiết nhiều gió lạnh và hay thay đổi. Tuy nhiên, hiện nay, do việc sử dụng điều hòa nhiệt độ quá phổ biến, bệnh gặp nhiều hơn vào mùa nóng. Đối tượng dễ mắc bệnh là những người có thể trạng yếu, ít tập luyện thể dục, những người hay sử dụng rượu bia, đi sớm về khuya. Ngoài ra những người có tiền sử huyết áp cao, xơ vữa động mạch, hay thức khuya cũng tiềm ẩn nguy cơ mắc bệnh. Theo lý luận của Y học cổ truyền, “chính khí tồn nội, tà bất khả can” tức là khi cơ thể khỏe mạnh thì tà khí, các nguyên nhân gây bệnh không thể xâm phạm. Ngược lại, khi cơ thể suy yếu, sức đề kháng suy giảm hoặc cơ thể không được giữ gìn, bảo vệ cẩn thận thì các yếu tố bên ngoài dễ dàng xâm phạm gây bệnh. Phong hàn (gió lạnh) xâm phạm vào vùng đầu mặt làm khí huyết ứ trệ, kinh lạc bị bế tắc, không duy trì được các hoạt động bình thường của một bên mặt. Một số nguyên nhân khác thường gặp: Zona thần kinh, viêm tai xương chũm, u dây thần kinh, phẫu thuật, chấn thương, … v Điều trị: Đối với những liệt mặt đã xác định được nguyên nhân, cần điều trị bằng các thuốc và phương pháp đặc hiệu Khi liệt mặt do lạnh hay không xác định được nguyên nhân, điều trị bằng Y học hiện đại sẽ sử dụng corticoid liều cao kết hợp với các thuốc tăng dẫn truyền thần kinh, vitamin B kết hợp với một số phương pháp vật lý trị liệu như chiếu đèn hồng ngoại. Các phương pháp Y học cổ truyền đã được sử dụng từ lâu đời và chứng minh được hiệu quả và an toàn khi điều trị liệt mặt ngoại biên. Hiện nay, các phương pháp được áp dụng phổ biến bao gồm: điện châm, cứu ngải, xoa bóp bấm huyệt, thủy châm, laser châm, cấy chỉ,… và uống thuốc Y học cổ truyền phù hợp với thể trạng từng bệnh nhân. Hình ảnh phương huyệt và điện châm trên bệnh nhân liệt mặt tại khoa Y học cổ truyền - BVĐK Hà Đông Thực tế lâm sàng cho thấy hiệu quả điều trị tăng lên khi kết hợp cùng lúc nhiều phương pháp điều trị, đặc biệt điều trị càng sớm hiệu quả đạt được càng cao và rút ngắn được thời gian điều trị. Bệnh có thể khỏi hoàn toàn nếu được điều trị kịp thời và hợp lý. v Phòng bệnh Giữ cho cơ thể khỏe mạnh, khám bệnh định kỳ tại các cơ sở uy tín là cách tốt nhất phòng bệnh liệt mặt và kiểm soát các yếu tố nguy cơ gây bệnh như huyết áp, mỡ máu, tiểu đường …, ngoài ra vì nguyên nhân chủ yếu là do lạnh nên việc tránh gió, lạnh từ thiên nhiên hay điều hòa, ăn đồ sống lạnh … là rất quan trọng. Đặc biệt là một bệnh tổn thương thần kinh nên việc điều trị sớm luôn là cách tốt nhất để có hiệu quả cao nhất và đề phòng biến chứng. Tài liệu tham khảo: - Khám lâm sàng hệ thần kinh, Hồ Hữu Lương, Nxb Y học 2006. -  Bệnh thần kinh ngoại vi, Hồ Hữu Lương, Nxb Y học 2005. - Châm cứu học, Nxb Y học 2005 -  Chuyên đề nội khoa Y học cổ truyền, Nxb Y học 2006 - Atlas giải phẫu người, Frank H. Netter. MD, Nxb Y học 2004.   Khi bị liệt mặt (Liệt dây thần kinh số VII) ngoại biên, người bệnh có thể đi khám tại các cơ sở y tế uy tín để được chẩn đoán chính xác nguyên nhân gây bệnh. Trong đó, khoa Y học cổ truyền, Bệnh viện đa khoa Hà Đông là một địa chỉ tin cậy thường điều trị bệnh lý liệt mặt ngoại biên. Bằng việc kết hợp nhiều phương pháp và điều trị tích cực ngay từ đầu, bệnh nhân liệt mặt ngoại biên đạt được kết quả điều trị rất tốt. Nhiều bệnh nhân nặng, đến khám và điều trị ở giai đoạn muộn cũng đạt được hiệu quả điều trị nhất định, cải thiện các chức năng sinh hoạt hàng ngày. Khoa Y học cổ truyền, bệnh viện đa khoa Hà Đông được thành lập từ năm 1971, hiện nay khoa đã có bề dày truyền thống với sự kết hợp tinh hoa giữa y học hiện đại và y học cổ truyền, đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng giỏi chuyên môn, giàu kinh nghiệm sẽ giúp người bệnh hoàn toàn yên tâm trong quá trình khám và điều trị bệnh. Để được định hướng điều trị liệt dây thần kinh số VII hiệu quả, quý khách hàng có thể liên hệ với các bác sĩ khoa Y học cổ truyền của Bệnh viện đa khoa Hà Đông để được các bác sĩ thăm khám và điều trị bệnh ThS. BS. Nguyễn Ngọc Trung, trưởng khoa y học cổ truyền ThS. BS. Trần Nhật Trường, phó khoa y học cổ truyền Để được tư vấn kỹ hơn về bệnh liệt mặt và liên hệ khám, điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông, Quý Khách vui lòng liên hệ Hotline: 0915580644 - 0969668115  

Xem Thêm

DANH MỤC TIN
Đặt lịch
Tìm Kiếm