Hiếm gặp: Bệnh lý xương bánh chè hai mảnh cả hai gối

Người viết: Tổ truyền thông

20/07/2021 14:28:15

Bệnh lý xương bánh chè hai mảnh khá hiếm gặp với đa số các trường hợp được phát hiện tình cờ. Thông thường, tổn thương này không có triệu chứng, tuy nhiên một số trường hợp có thể gây đau do vận động quá mức của khớp gối hoặc đi kèm tổn thương thoái hóa gối người lớn tuổi.

Thế nào là tổn thương xương bánh chè hai mảnh?

Tổn thương xương bánh chè hai mảnh xuất hiện khi điểm cốt hóa phụ của xương bánh chè không liền với xương bánh chè chính, gặp ở giai đoạn phát triển xương tuổi thiếu niên. Tỷ lệ gặp tổn thương này khoảng 2% và 50% các trường hợp bệnh nhân bị cả hai bên. Đa số các trường hợp bệnh nhân không có biểu hiện lâm sàng mà chỉ tình cờ phát hiện qua chụp phim thường quy khớp gối.

Một số trường hợp, có thể biểu hiện đau do vận động quá mức của khớp gối như chơi thể thao… hoặc cũng có thể do chấn thương.

Biểu hiện tổn thương xương bánh chè hai mảnh:

Triệu chứng đau do xương bánh chè hai mảnh thường xuất hiện theo 1 trong 2 cách: tiến triển từ từ hoặc là đột ngột sau chấn thương. Đau thường khu trú ở cực trên ngoài của bánh chè tương ứng với vị trí của mảnh xương phụ, đau thường tăng lên khi vận động và ảnh hưởng đến vận động thường kèm theo sưng nền quanh vị trí xương phụ. Tràn dịch gối rất hiếm gặp, nếu có thường phải loại trừ các tổn thương trong khớp kèm theo. Ở những bệnh nhân có triệu chứng kéo dài, tình trạng teo cơ đùi thường xảy ra và kèm theo là hạn chế duỗi gối chủ động.

Một số tác giả cho rằng, triệu chứng đau do ảnh hưởng của lực kéo quá mức từ cơ rộng ngoài lên mảnh xương phụ, từ đó đề xuất phương pháp phẫu thuật chỉ giải phóng vị trí bám của gân cơ rộng ngoài lên mảnh xương phụ đơn thuần mà không cần lấy bỏ.

Chẩn đoán và điều trị tổn thương xương bánh chè hai mảnh:

Chụp X-quang thường quy khớp gối thẳng nghiêng là chưa đủ để chẩn đoán xác định cũng như phân biệt các loại của tổn thương này. Tư thế chụp có giá trị là chụp khớp bánh chè lồi cầu nhưng thường khó thực hiện do bệnh nhân đau nên khó gấp gối.

Ngoài ra có thể chụp phim cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ. Chụp cộng hưởng từ có giá trị vì ngoài việc chẩn đoán xác định tổn thương còn loại trừ các tổn thương trong khớp khác khi có tràn dịch khớp gối kèm theo.

Phẫu thuật nội soi là xu hướng mới xử trí tổn thương lấy bỏ xương bánh chè phụ với ưu thế can thiệp tối thiểu giúp bệnh nhân sớm phục hồi.

Lời khuyên của bác sĩ:

Tổn thương xương bánh chè hai mảnh khá hiếm gặp. Việc chẩn đoán khó khăn khi không nghĩ đến. Vì vậy, khi có biểu hiện sưng đau hạn chế vận động khớp gối kèm các biểu hiện nghi ngờ có dịch khớp cần đến cơ sở y tế chuyên khoa xương khớp để được khám và đánh giá đúng mức tổn thương.

Một trường hợp đặc biệt
Bệnh nhân Ngô Thị Th. (59 tuổi, ở Chương Mỹ, Hà Nội) vào viện do bị đau, mất vận động khớp gối đau nhiều vào buổi sáng khi ngủ dậy khiến việc đi lại, sinh hoạt gặp nhiều khó khăn. Bệnh nhân đã đi khám nhiều nơi và được điều trị tại địa phương bằng thuốc  nam nhưng không đỡ, càng ngày cơn đau càng nhiều hơn đến khám khoa Chấn thương chỉnh hình, BVĐK Hà Đông khám.

Tại đây, các bác sĩ thăm khám lâm sàng có biểu hiện tràn dịch khớp gối mức độ vừa, biên độ vận động gối bình thường, không có mất vững gối, không có triệu chứng lâm sàng của tổn thương sụn chêm. Chụp phim Xquang thấy có tổn thương mất liên tục của xương bánh chè phía trên ngoài, siêu âm có tràn dịch khớp gối. Chẩn đoán sơ bộ bệnh lý xương bánh chè hai mảnh hai gối vì không có yếu tố chấn thương, được chụp phim cộng hưởng từ đánh giá các dây chằng, sụn chêm và sụn khớp đều thấy bình thường. Tổn thương cực trên của hai gối nghĩ đến thương tổn xương bánh chè hai mảnh.
Bệnh nhân đã được phẫu thuật nội soi khớp gối, đây là kỹ thuật ít xâm lấn (ít gây tổn thương thêm cho người bệnh), trong và sau mổ người bệnh ít đau đớn, giảm nguy cơ nhiễm trùng, rút ngắn thời gian nằm viện, giảm chi phí điều trị, nhanh chóng phục hồi và trở lại cuộc sống, sinh hoạt bình thường. Đặc biệt với kỹ thuật này vết nội nhỏ khoảng 3cm nhanh liền seo, còn kỹ thuật nội soi truyền thông vết nội soi dài 15 đến 20 cm và lâu liền sẹo).
Sau 4 ngày sau phẫu thuật, bệnh nhân đã hết đau, đã bắt đầu tập đi. Dự kiến, sau 2 tuần bệnh nhân có thể tự đi mà không cần đến dụng cụ hỗ trợ.

DANH MỤC TIN
Từ 1/1/2021: "Chỉ thông tuyến tỉnh với người có thẻ BHYT điều trị nội trú…"
Thứ Hai 28/12/2020 08:24:49
"Nhiều người đang hiểu thông tuyến tỉnh là tất cả người bệnh được quỹ BHYT chi trả. Tôi xin khẳng định, quy định này chỉ dành cho người đến khám và được bác sĩ chỉ định nhập viện điều trị nội trú…". Từ 1/1/2021, thông tuyến tỉnh điều trị nội trú với người có thẻ BHYT. (Ảnh: Đỗ Linh). Ông Lê Văn Phúc - Trưởng Ban thực hiện chính sách bảo hiểm y tế (Bảo hiểm xã hội VN) - trao đổi thêm thông tin liên quan tới quy định thông tuyến tỉnh khám chữa bệnh nội trú theo thẻ BHYT, có hiệu lực từ ngày 1/1/2021.  Người có thẻ BHYT hưởng lợi gì? Theo ông Lê Văn Phúc, từ ngày 1/1/2021, việc mở thêm quy định thông tuyến tỉnh điều trị nội trú giúp cho người có thẻ BHYT chủ động lựa chọn, tiếp cận dịch vụ y tế phù hợp với tình trạng bệnh, đồng thời cũng là cơ hội để các tuyến y tế nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Những trường hợp người có thẻ BHYT phát sinh nhu cầu khám, điều trị tại bệnh viện tuyến tỉnh hoặc đang ở tỉnh xa nếu bị bệnh thì có thể đến các bệnh viện tuyến tỉnh và được BHYT chi trả 100% nếu điều trị nội trú, không phải trở về địa phương để khám chữa bệnh theo tuyến như trước kia.  Ông Lê Văn Phúc - Trưởng ban thực hiện chính sách BHYT(BHXH VN). (Ảnh: TL) "Do phạm vi lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh càng rộng, người bệnh có nhiều sự lựa chọn hơn và thúc đẩy các cơ sở y tế từ tuyến cơ sở đến tuyến tỉnh nâng cao chất lượng khám chữa bệnh để thu hút, tạo sự tin tưởng cho người bệnh" - ông Lê Văn Phúc giải thích thêm. Trong đó, các nhóm đối tượng được BHYT chi trả 100% chi phí khi đi khám chữa bệnh đúng tuyến, gồm: Người có công với cách mạng, người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng, người thuộc hộ gia đình nghèo, người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo; trẻ em dưới 6 tuổi… Trước đó, Luật BHYT năm 2014 đã quy định quy định thông tuyến huyện cho hoạt động khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT từ ngày 1/1/2016. Với quy định tại Khoản 6 Điều 22 Luật BHYT, từ ngày 1/1/2021, người tham gia BHYT khi đi khám chữa bệnh không đúng tuyến tại cơ sở khám chữa bệnh tuyến tỉnh sẽ được quỹ BHYT trả chi phí điều trị nội trú theo phạm vi quyền lợi và mức hưởng như trường hợp khám chữa bệnh đúng tuyến. Đại diện Ban thực hiện chính sách BHYT cho biết thêm: "Theo quy định hiện hành, Quỹ BHYT chỉ thanh toán 60% chi phí điều trị nội trú khi vượt tuyến. Sau ngày 1/1/2021, tùy từng nhóm đối tượng tham gia BHYT theo Luật BHYT quy định, người bệnh được thanh toán chi phí khám chữa bệnh với các mức 100%, 95% hoặc 80%".  "Xin được lưu ý, với quy định thông tuyến tỉnh từ năm 2021, Quỹ BHYT chỉ chi trả 100% chi phí theo phạm vi quyền lợi và mức hưởng cho các trường hợp người bệnh tự đi khám tại bệnh viện tuyến tỉnh và có chỉ định điều trị nội trú của bác sĩ. Trường hợp người dân tự đi khám ngoại trú, sẽ phải tự chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh" - Ông Lê Văn Phúc cho. Đồng thời, quy định thông tuyến tỉnh được áp dụng với tất cả các bệnh viện tuyến tỉnh và một số bệnh viện ngành. Các tuyến trung ương như bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức, Chợ Rẫy, Thống Nhất, Trung ương 108 không áp dụng. Áp lực cho quỹ BHYT và cơ sở khám chữa bệnh Dự báo của Ban thực hiện chính sách BHYT, sau khi thông tuyến tỉnh, chi phí khám chữa bệnh sẽ gia tăng lên con số không nhỏ. "Năm 2020, quỹ BHYT chi trả 60% chi phí điều trị nội trú cho hơn 1 triệu bệnh nhân vượt tuyến với số tiền khoảng 1.250 tỉ đồng. Nếu áp số lượng bệnh nhân trên với năm 2021, trong điều kiện trả toàn bộ chi phí điều trị nội trú, chi phí BHYT dự kiến tăng ít nhất 2.000 tỉ đồng…" - ông Lê Văn Phúc ước tính. Người dân tới khám chữa bệnh theo thẻ BHYT (Ảnh: TL) Đây cũng là thách thức lớn đối với việc quản lý quỹ BHYT. Bởi theo ông Lê Văn Phúc, quỹ dự phòng BHYT chỉ có thể đáp ứng chi trả đến hết năm 2021.  Vậy cần hạn chế những tác động không mong muốn ra sao với quỹ BHYT cũng như hạn chế tình trạng "dồn ứ" cho nhiều bệnh viện tuyến tỉnh? Theo ông Lê Văn Phúc, người dân cần hiểu rõ quy định của việc thông tuyến tỉnh chỉ dành cho điều trị nội trú. Theo thống kê của BHXH VN, tới cuối tháng 12/2020, cả nước có 88 triệu người tham gia BHYT, chiếm 90,85% dân số, vượt 0,15% chỉ tiêu Nghị quyết số 01 của Chính phủ, tăng 25,6% so với năm 2015. Trong khi đó, hệ thống y tế của Việt Nam đã được vận hành theo phân cấp: Trường hợp bệnh nhẹ, người bệnh sẽ được chuyển đến cơ sở y tế tuyến xã, huyện. Trường hợp mắc bệnh nặng hơn thì mới lên tuyến tỉnh hoặc Trung ương để điều trị. Những năm qua ngành y tế đã chú trọng nâng cấp hệ thống y tế cơ sở, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và năng lực chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. "Việc thông tuyến tỉnh đối với người bệnh nội trú là đã "khoanh vùng" những người bệnh nặng, phải điều trị dài ngày, chuyên sâu, cần chăm sóc nhiều hơn…" - ông Lê Văn Phúc cho biết. Liên quan tới hạn chế tình trạng "lạm dụng" chỉ định điều trị nội trú của bác sĩ, ông Lê Văn Phúc cho biết nếu không giám sát hiệu quả, các bệnh viện sẽ đối mặt với tình trạng quá tải khi bệnh nhân điều trị nội trú gia tăng trong khi các nguồn lực còn hạn chế. "Có thể xảy ra xu hướng chỉ định điều trị nội trú kể cả với bệnh nhân bệnh nhẹ, chưa thực sự cần thiết điều trị nội trú cũng nhập viện, dễ dẫn đến quá tải BV. Chưa kể bệnh nhân nội trú kèm theo vài người thăm nom, chăm sóc gây khó khăn cho sinh hoạt của bệnh viện…" - ông Lê Văn Phúc cho biết. Theo ông Lê Văn Phúc, Bộ Y tế đang hoàn tất quy định về chỉ định nhập viện điều trị nội trú để tránh tình trạng lạm dụng điều trị nội trú khi không cần thiết. Đồng thời, Bộ cũng yêu cầu các giám đốc sở Y tế các tỉnh, thành phố chỉ đạo các cơ sở khám chữa bệnh tuyến tỉnh tăng cường công tác quản lý chất lượng dịch vụ theo đúng hướng dẫn tại Thông tư số 19/2013/TT-BYT về thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện… Nguồn: dantri.com.vn  
Tìm Kiếm