Sinh hoạt khoa học tháng 6 về chuyên môn: Răng Hàm Mặt và Y học cổ truyền

Người viết: Tổ truyền thông

09/06/2020 06:15:20

Nhằm nâng cao kiến thức chuyên môn, áp dụng thực tiễn, cải tiến hơn nữa chất lượng khám chữa bệnh hướng tới sự hài lòng người bệnh. Chiều ngày 02/06/2020 Bệnh viện đa khoa Hà Đông tổ chức sinh hoạt khoa học tháng 6 với 02 chuyên đề “Sử dụng hàm Facemask điều trị khớp cắn loại III”, Khoa Răng Hàm Mặt và chuyên đề “Hiệu quả và sự an toàn của các bài thuốc Y học cổ truyền trong điều trị rối loạn giấc ngủ ở phụ nữ mãn kinh”, Khoa Y học cổ truyền(YHCT). Buổi sinh hoạt khoa học có sự tham gia của Ban giám đốc bệnh viện và lãnh đạo khoa, phòng, bác sĩ, điều dưỡng trong bệnh viện.

BSCKII.Lê Hoàng Tú – Phó Giám đốc bệnh viện phát biểu tại buổi sinh hoạt khoa học

Phát biểu khai mạc buổi sinh hoạt khoa học, BSCKII.Lê Hoàng Tú, Phó Giám đốc Bệnh viện “nhấn mạnh vai trò của buổi sinh hoạt, tạo điều kiện trao đổi chuyên môn, từ đó áp dụng có hiệu quả trong điều trị lâm sàng, đồng thời yêu cầu các học viên phải luôn nâng cao tinh thần tự giác học hỏi, trau dồi kinh nghiệm để bổ sung kiến thức phục vụ tốt công tác khám chữa bệnh”.

Mở đầu buổi sinh hoạt khoa học, Ths.Bs Lê Anh Tùng – Khoa Răng Hàm Mặt đã trình bày về “Sử dụng hàm Facemask điều trị khớp cắn loại III”. Nội dung báo cáo nhấn mạnh vai trò của hàm Facemask là một loại khí cụ chỉnh hình, sử dụng lực ngoài miệng tác động lên xương hàm trên có tác dụng: làm tách đường khớp để kích thích sự phát triển của xương hàm trên, di chuyển ra trước xương hàm trên và răng hàm trên, xoay xuống dưới và ra sau xương hàm dưới, ngả lưỡi răng cửa hàm dưới. Hàm Facemask có cấu tạo bao gồm ba phần: Mặt nạ ngoài mặt (mask): Làm chỗ tựa để kéo xương hàm trên ra trước; Máng đeo trong miệng: Liên kết thành một khối gắn với răng hàm trên để tăng neo chặn và nâng cao khớp cắn; Hệ thống chun truyền lực: Nối giữa mặt nạ ngoài mặt và máng trong miệng. Tiếp đến Ths.Bs Lê Anh Tùng chỉ ra các trường hợp sử dụng hàm Facemask điều trị khớp cắn loại III do kém phát triển xương hàm trên; Bệnh nhân trong độ tuổi đang tăng trưởng; Răng cửa hàm trên có trục bình thường hay ngả sau; Kích thước dọc phía trước trung bình hoặc ngắn. Cuối cùng Ths.Bs Lê Anh Tùng trích dẫn case lâm sàng cụ thể bệnh nhân sử dụng hàm Facemask điều trị khớp cắn loại III.

 

Ths.Bs.Lê Anh Tùng – Khoa Răng Hàm Mặt trình bày về chuyên đề “Sử dụng hàm Facemask điều trị khớp cắn loại III”

Tiếp sau đó là chuyên đề “Hiệu quả và sự an toàn của các bài thuốc Y học cổ truyền trong điều trị rối loạn giấc ngủ ở phụ nữ mãn kinh” được chia sẻ bởi Bác sĩ nội trú Nguyễn Thị Hương Giang, Khoa Y học cổ truyền. Theo đó, Báo cáo viên chỉ ra tiêu chuẩn lâm sàng chẩn đoán Mãn kinh: Phụ nữ từ 40 tuổi trở lên đang hành kinh xuất hiện mất kinh tự nhiên liên tục trong 12 tháng. Đối vớiphụ nữ dưới 40 tuổi tắt kinh, cần làm thêm xét nghiệm để chẩn đoán: nồng độ FSH > 40 mIU/ml và/hoặc estradiol < 50pg/l. Hội chứng mãn kinh: phụ nữ mãn kinh có một trong số 11 triệu chứng theo thang điểm BLATT – KUPPERMAN: bốc hỏa, tâm tính bất thường, mất ngủ, dễ bị kích động, lo âu, chóng mặt, hồi hộp, tính tình yếu đuối, đau cơ xương khớp, cảm giác kiến bò ở da. Trong báo cáo Bác sĩ Nguyễn Thị Hương Giang có đưa ra định nghĩa về Mất ngủ là khó đi vào giấc ngủ, khó duy trì giấc ngủ hoặc thức dậy quá sớm và không quay trở lại được giấc ngủ hoặc ngủ dậy có cảm giác không ngon giấc. Mất ngủ trong YHCT gọi là chứng “thất miên”, “bất mị”, “bất đắc miên”, gồm các thể bệnh:Tâm tỳ lưỡng hư, Âm hư hỏa vượng, Tâm đởm khí hư, Can uất hóa hỏa, Đàm nhiệt nội nhiễu. Mãn kinh có bệnh danh “kinh tuyệt” trong YHCT, là biểu hiện của quá trình lão suy. Cơ chế bệnh sinh chính của thời kì mãn kinh là do thận tinh hư tổn, âm huyết hư dẫn tới một loạt các biến hóa bệnh lý đều ảnh hưởng tới giấc ngủ. Hai thể bệnh hay gặp là Tâm tỳ lưỡng hư và Âm hư hỏa vượng. Khi điều trị bệnh lý mất ngủ ở phụ nữ mãn kinh cần phải áp dụng pháp trị cả tiêu lẫn bản: lấy bổ huyết sinh tinh làm căn bản để điều trị rối loạn thời kì mãn kinh; đồng thời sử dụng các vị thuốc có tác dụng an thần để điều trị triệu chứng. Qua đó, Bác sĩ Nguyễn Thị Hương Giang đã đưa ra các bài thuốc trong YHCT để điều trị mất ngủ ở phụ nữ mãn kinh như: Thuốc sắc YHCT, Điện châm, Nhĩ châm, Cấy chỉ, Cứu, Xoa bóp bấm huyệt, Massage chân, Ngâm chân thảo dược,... Hiện nay các bác sĩ Khoa Y học cổ truyền đã và đang tiến hành nghiên cứu tác dụng của bài thuốc Hậu thiên lục vị phương điều trị mất ngủ ở phụ nữ mãn kinh trên 15 bệnh nhân có độ tuổi từ 40-65 có mất ngủ, điều trị liên tục trong vòng 30 ngày và cho kết quả bước đầu ghi nhận có đến 60% bệnh nhân mất ngủ có giấc ngủ khá hơn, 27% có chất lượng giấc ngủ tốt hơn sau điều trị. Sau đó, Bác sĩ Nguyễn Thị Hương Giang chỉ ra các ưu điểm của các phương pháp này giúp cải thiện triệu chứng mất ngủ đồng thời điều trị vào gốc bệnh, tác dụng an thần gây ngủ là tổng hòa của nhiều thành phần tác động lên giấc ngủ, tác dụng từ từ, ổn định, hạn chế được các tác dụng không mong muốn, tình trạng nhờn thuốc, quen thuốc.

Bs nội trú Nguyễn Thị Hương Giang – Khoa Y học cổ truyền trình bày về chuyên đề “Hiệu quả và sự an toàn của các bài thuốc Y học cổ truyền trong điều trị rối loạn giấc ngủ ở phụ nữ mãn kinh”

Kết thúc phần trình bày của 02 báo cáo viên, các chuyên đề đã nhận được sự quan tâm, đặt ra câu hỏi và thảo luận từ các bác sĩ, điều dưỡng... tham dự trong việc ứng dụng lâm sàng nhằm tăng cường sự phối hợp giữa các chuyên khoa để đạt hiệu quả tối đa trong khám và điều trị bệnh.

Buổi sinh học khoa học tháng 6 với các chuyên đề đều rất ý nghĩa, mang tính ứng dụng cao trong lâm sàng, đồng thời giúp các khoa phòng khác trong toàn bệnh viện cập nhật kiến thức chuyên môn, trao đổi kinh nghiệm, từ đó học hỏi, nâng cao chất lượng khám và điều trị bệnh hướng tới sự hài lòng người bệnh.  

 

DANH MỤC TIN
Từ 1/1/2021: "Chỉ thông tuyến tỉnh với người có thẻ BHYT điều trị nội trú…"
Thứ Hai 28/12/2020 08:24:49
"Nhiều người đang hiểu thông tuyến tỉnh là tất cả người bệnh được quỹ BHYT chi trả. Tôi xin khẳng định, quy định này chỉ dành cho người đến khám và được bác sĩ chỉ định nhập viện điều trị nội trú…". Từ 1/1/2021, thông tuyến tỉnh điều trị nội trú với người có thẻ BHYT. (Ảnh: Đỗ Linh). Ông Lê Văn Phúc - Trưởng Ban thực hiện chính sách bảo hiểm y tế (Bảo hiểm xã hội VN) - trao đổi thêm thông tin liên quan tới quy định thông tuyến tỉnh khám chữa bệnh nội trú theo thẻ BHYT, có hiệu lực từ ngày 1/1/2021.  Người có thẻ BHYT hưởng lợi gì? Theo ông Lê Văn Phúc, từ ngày 1/1/2021, việc mở thêm quy định thông tuyến tỉnh điều trị nội trú giúp cho người có thẻ BHYT chủ động lựa chọn, tiếp cận dịch vụ y tế phù hợp với tình trạng bệnh, đồng thời cũng là cơ hội để các tuyến y tế nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Những trường hợp người có thẻ BHYT phát sinh nhu cầu khám, điều trị tại bệnh viện tuyến tỉnh hoặc đang ở tỉnh xa nếu bị bệnh thì có thể đến các bệnh viện tuyến tỉnh và được BHYT chi trả 100% nếu điều trị nội trú, không phải trở về địa phương để khám chữa bệnh theo tuyến như trước kia.  Ông Lê Văn Phúc - Trưởng ban thực hiện chính sách BHYT(BHXH VN). (Ảnh: TL) "Do phạm vi lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh càng rộng, người bệnh có nhiều sự lựa chọn hơn và thúc đẩy các cơ sở y tế từ tuyến cơ sở đến tuyến tỉnh nâng cao chất lượng khám chữa bệnh để thu hút, tạo sự tin tưởng cho người bệnh" - ông Lê Văn Phúc giải thích thêm. Trong đó, các nhóm đối tượng được BHYT chi trả 100% chi phí khi đi khám chữa bệnh đúng tuyến, gồm: Người có công với cách mạng, người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng, người thuộc hộ gia đình nghèo, người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo; trẻ em dưới 6 tuổi… Trước đó, Luật BHYT năm 2014 đã quy định quy định thông tuyến huyện cho hoạt động khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT từ ngày 1/1/2016. Với quy định tại Khoản 6 Điều 22 Luật BHYT, từ ngày 1/1/2021, người tham gia BHYT khi đi khám chữa bệnh không đúng tuyến tại cơ sở khám chữa bệnh tuyến tỉnh sẽ được quỹ BHYT trả chi phí điều trị nội trú theo phạm vi quyền lợi và mức hưởng như trường hợp khám chữa bệnh đúng tuyến. Đại diện Ban thực hiện chính sách BHYT cho biết thêm: "Theo quy định hiện hành, Quỹ BHYT chỉ thanh toán 60% chi phí điều trị nội trú khi vượt tuyến. Sau ngày 1/1/2021, tùy từng nhóm đối tượng tham gia BHYT theo Luật BHYT quy định, người bệnh được thanh toán chi phí khám chữa bệnh với các mức 100%, 95% hoặc 80%".  "Xin được lưu ý, với quy định thông tuyến tỉnh từ năm 2021, Quỹ BHYT chỉ chi trả 100% chi phí theo phạm vi quyền lợi và mức hưởng cho các trường hợp người bệnh tự đi khám tại bệnh viện tuyến tỉnh và có chỉ định điều trị nội trú của bác sĩ. Trường hợp người dân tự đi khám ngoại trú, sẽ phải tự chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh" - Ông Lê Văn Phúc cho. Đồng thời, quy định thông tuyến tỉnh được áp dụng với tất cả các bệnh viện tuyến tỉnh và một số bệnh viện ngành. Các tuyến trung ương như bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức, Chợ Rẫy, Thống Nhất, Trung ương 108 không áp dụng. Áp lực cho quỹ BHYT và cơ sở khám chữa bệnh Dự báo của Ban thực hiện chính sách BHYT, sau khi thông tuyến tỉnh, chi phí khám chữa bệnh sẽ gia tăng lên con số không nhỏ. "Năm 2020, quỹ BHYT chi trả 60% chi phí điều trị nội trú cho hơn 1 triệu bệnh nhân vượt tuyến với số tiền khoảng 1.250 tỉ đồng. Nếu áp số lượng bệnh nhân trên với năm 2021, trong điều kiện trả toàn bộ chi phí điều trị nội trú, chi phí BHYT dự kiến tăng ít nhất 2.000 tỉ đồng…" - ông Lê Văn Phúc ước tính. Người dân tới khám chữa bệnh theo thẻ BHYT (Ảnh: TL) Đây cũng là thách thức lớn đối với việc quản lý quỹ BHYT. Bởi theo ông Lê Văn Phúc, quỹ dự phòng BHYT chỉ có thể đáp ứng chi trả đến hết năm 2021.  Vậy cần hạn chế những tác động không mong muốn ra sao với quỹ BHYT cũng như hạn chế tình trạng "dồn ứ" cho nhiều bệnh viện tuyến tỉnh? Theo ông Lê Văn Phúc, người dân cần hiểu rõ quy định của việc thông tuyến tỉnh chỉ dành cho điều trị nội trú. Theo thống kê của BHXH VN, tới cuối tháng 12/2020, cả nước có 88 triệu người tham gia BHYT, chiếm 90,85% dân số, vượt 0,15% chỉ tiêu Nghị quyết số 01 của Chính phủ, tăng 25,6% so với năm 2015. Trong khi đó, hệ thống y tế của Việt Nam đã được vận hành theo phân cấp: Trường hợp bệnh nhẹ, người bệnh sẽ được chuyển đến cơ sở y tế tuyến xã, huyện. Trường hợp mắc bệnh nặng hơn thì mới lên tuyến tỉnh hoặc Trung ương để điều trị. Những năm qua ngành y tế đã chú trọng nâng cấp hệ thống y tế cơ sở, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và năng lực chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. "Việc thông tuyến tỉnh đối với người bệnh nội trú là đã "khoanh vùng" những người bệnh nặng, phải điều trị dài ngày, chuyên sâu, cần chăm sóc nhiều hơn…" - ông Lê Văn Phúc cho biết. Liên quan tới hạn chế tình trạng "lạm dụng" chỉ định điều trị nội trú của bác sĩ, ông Lê Văn Phúc cho biết nếu không giám sát hiệu quả, các bệnh viện sẽ đối mặt với tình trạng quá tải khi bệnh nhân điều trị nội trú gia tăng trong khi các nguồn lực còn hạn chế. "Có thể xảy ra xu hướng chỉ định điều trị nội trú kể cả với bệnh nhân bệnh nhẹ, chưa thực sự cần thiết điều trị nội trú cũng nhập viện, dễ dẫn đến quá tải BV. Chưa kể bệnh nhân nội trú kèm theo vài người thăm nom, chăm sóc gây khó khăn cho sinh hoạt của bệnh viện…" - ông Lê Văn Phúc cho biết. Theo ông Lê Văn Phúc, Bộ Y tế đang hoàn tất quy định về chỉ định nhập viện điều trị nội trú để tránh tình trạng lạm dụng điều trị nội trú khi không cần thiết. Đồng thời, Bộ cũng yêu cầu các giám đốc sở Y tế các tỉnh, thành phố chỉ đạo các cơ sở khám chữa bệnh tuyến tỉnh tăng cường công tác quản lý chất lượng dịch vụ theo đúng hướng dẫn tại Thông tư số 19/2013/TT-BYT về thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện… Nguồn: dantri.com.vn  
Tìm Kiếm