Quá trình hình thành và phát triển

0
2237

Nằm trên địa bàn thị xã Hà Đông ( nay là quận Hà Đông), Bệnh viện Đa khoa Hà Đông  gắn liền với sự hình thành và phát triển của thị xã Hà Đông và tỉnh Hà Tây ( cũ). Từ trung tâm Hà Nội vượt qua cầu Trắng bắc qua sông Nhuệ chừng 1 km có một bệnh viện nằm khiêm tốn bên con phố nhỏ tại số 2 Bế Văn Đàn, cách trục đường Quang Trung chừng 100m. Đó chính là cơ sở khám chữa bệnh lớn nhất của tỉnh Hà Tây, Hà Sơn Bình nay là của thành phố Hà Nội. Có biết bao thế hệ cán bộ từng dày công đóng góp xây dựng vì sự phát triển của bệnh viện, song ít ai biết đến bệnh viện có từ bao giờ và những năm tháng xây dựng và phát triển của nó.

  1. Giai đoạn 1904 – 1020

Theo cuốn “ Thị xã Hà Đông xưa và nay” thì tình Hà Đông được thành lập vào năm 1904 bao gồm 3 phủ cũ được gọi là 11 huyện có tên gọi là Hoài Đức, Từ Liêm, Đan Phượng, Hoàn Long, Thanh Trì, Thường Tín, Thanh Oai, Chương Mỹ, Ứng Hòa, Mỹ Đức, Phú Xuyên.  Tỉnh lỵ Hà Đông ( lúc đó chưa gọi là thị xã) chiếm diện tích nhỏ hẹp khoảng 0,5km2 trên đất ruộng làng Cầu Đơ, thuộc Tổng Thanh Oai Thượng và chỉ có 30 xuất đinh trong tổng số hơn 1000 người. Từ năm 1904 đến 1910 sở Công Chính chỉ tu bổ những con đường hiện đã có mà thôi, xây những cầu mới một cách giản dị bền chặt hơn các cầu cũ. Thị xã Hà Đông chiềm một khoảng đất dọc 2 bên đường quốc lộ 6 có chiều dài chừng 1 km từ đầu cầu Hà Đông xuống. Năm 1904 lập chợ Hà Đông, năm 1910 bệnh viện được hình thành, lúc đầu là Nhà thương tỉnh lỵ còn gọi là nhà thương làm phúc, nay là Bệnh viện đa khoa Hà Đông. Cơ sở vật chất lúc đó còn nghèo nàn, thô sơ, ở khu vực sân bay nay là phố Bế Văn Đàn, phố Me nay là phố Phan Đình Phùng và khu biệt thự của công chức cao cấp hầu hết là người Pháp. Năm 1918 lập thêm nhà Hộ sinh ở trong nhà thương. Trong tỉnh đặt thêm 19 nhà trạm nữa.

Khu vực bên trái đường bao gồm vường hòa đầu cầu, câu lạc bộ người Pháp nay là nhà Văn hóa Trung tâm thiếu nhi thị xã. Sở Lục Lộ nay là sở Giao thông công chính, sở Cẩm ( sở cảnh sát) nay là xí nghiệp in Hà Tây ( cũ). Nhà thờ Thiên chúa giáo Hà Đông xây vào năm 1914.

  1. Giai đoạn 1921 – 1953

Giai đoạn này địa phận thị xã Hà Đông mới kéo dài đến  Bóp Kén ( nay là Nhà thi đấu Hà Đông) và phố Bông Đỏ từ đường 6 đi sâu vào phía chợ có 5 trục chính: Phố Nguyễn Hữu Độ ( phố Lê Lợi ngày nay), phố Fulsferrg ( phố Trưng Nhị) người dân quen gọi là phố Nhà Thờ. Phố Trưng Trắc chỉ có một đoạn ngắn trước cổng UBND quận Hà Đông, phố Gia Long ( 1947 – 1954) nay là phố Bà Triệu. Phố Nguyễn Trãi ( trước không rõ tên) chạy cắt ngang 5 trục phố này là phố Duvillers nay là phố Hoàng Hoa Thám. Phố Duy Tân nay là phố Trần Hưng Đạo, phố Minh Khai và phố Trần Hưng Đạo trước kia chưa rõ tên. Bước vào năm 1930 sân vận động thị xã khánh thành có tên là Yvesalen ( tên của viên thống chế Pháp).

Năm 1940 chính quyền bảo hộ Pháp quyết định nâng cấp tỉnh lỵ Hà Đông lên cấp thị xã thuộc đô thị loại IV. Đây là bước phát triển mới của tỉnh lỵ Hà Đông sau 36 năm chính thức thành lập. Các cơ quan chủ yếu đặt hai bên trục đường 6, phía nam bên phải là trại lính, khu công chức, kho bạc, nhà thương và sân bay. Phía bên trái là bưu chính, máy nước, đốc học trường, các trường tiểu học, dân cư chỉ khoảng 3000 người.

Thực ra, Nhà thương thực sự nhận bệnh nhân để khám và điều trị vào khoảng năm 1930, chủ yếu là khám đên đơn ngoại trú, đỡ đẻ thường. Lúc này người Pháp đặt tên cho bệnh viện là “  Bệnh viện người bản xứ” hay nahf thương bản xứ. Cơ sở vật chất lúc đó chỉ có khoảng 7 ngôi nhà cấp 4. Hiện nay còn  lại phần nền móng và đã được nâng cấp đó là: khoa Dược ( nay là nhà Ban giám đốc), nhà đẻ ( nay là khu nhà khoa Truyền nhiễm), nhà điều trị bệnh nhân nội trú ( Salla des malades) nay là nhà thuộc phòng Hành chính quản trị.

Quy mô lúc đó bao gồm phòng Khám bệnh, khoa Dược cấp phát thuốc và có pha nước cất, phòng xét nghiệm, nhà đẻ đỡ đẻ thường, khoa điều trị nội trú khoảng 20 giường, chủ yếu điều trị các bệnh nội khoa, truyền nhiễm. Phòng hành chính chủ yếu để cấp giấy khai sinh. Nhà xác chứa bệnh nhân tử vong khoảng 20 m2.

Về nhân lực: tổng số khoảng 30 người.

  • 01 bác sĩ người Pháp phụ trách là bác sĩ Letoze.
  • 01 bác sĩ Đông Dương là Nguyễn Ngọc Thiện
  • 01 dược sĩ là Nguyễn Văn Thuyết phụ trách khoa Dược và phòng xét nghiệm.
  • 01 nữ hộ sinh là Nguyễn Thị Tý và một số y tá, hộ lý.

Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, sau khi Trung đoàn Thủ đô rút khỏi Hà Nội. Năm 1947 người Pháp chiếm bệnh viện dùng làm bốt và là nơi chữa bệnh cho binh lính ( bệnh viện Quân sự), bệnh viện dân sự ra ngoài thành phố.

  1. Giai đoạn 1954 – 1964

Ngày 6/10/1954 thị xã Hà Đông được giải phóng. Một đơn vị bộ đội có 3 cán bộ y tế đến tiếp quản bệnh viện. Sau đó nửa tháng đoàn cán bộ y tế chính thức tiếp quản bệnh viện. Lúc này bệnh viện được mang tên là Bệnh viện Hà Đông

Quản đốc bệnh viện đầu tiên sau hòa bình lập lại là y sĩ Phạm Năng An.

  • Y sĩ Vũ Quang Điệp ( đảng viên phụ trách đoàn thể)
  • Y tá Nguyễn Đức Kế
  • Y tá Nguyễn Công Phùng
  • Y tá Cao Văn Tích
  • Nữ hộ sinh trung học ( Bà Kim)
  • Kế toán Phạm Đức Thành
  • Công nhân Nguyễn Văn Nho, Nguyễn Văn Mậu, Đào Phúc Tường ( sau đi học y tá, y sĩ)
  • Cấp dưỡng Nguyễn Thị Măng và một số hộ lý khác.

Sau 2 tuần nghe ngóng, một số cán bộ y tế làm việc tại bệnh viện từ trước ngày giải phóng thị xã đã trở lại bệnh viện. Nhóm cán bộ y tá đó là: y tá Lưu Đình Thơm, lã Duy Như, Trần Hải, Dương Thiện Đàm, Nguyễn Văn Quý, Nguyến  Bảo  Đán, Đoàn Như Hải, Bùi Đăng Thu, Nguyễn Hữu Duyệt và một vài người khác, riêng y tá Lưu Đình Thơm đem theo một số dụng cụ phục vụ người bệnh nộp cho Ban Quản đốc.

  • Cơ sở vật chất

Diện tích bệnh viện chừng 5 ha được xây dựng tưởng xung quanh. Khi đó bệnh viện có 2 cổng, một cổng chính như hiện nay, một cổng phụ nằm giữa Trung tâm Kỹ thuật cao và khoa Nội tim mạch hiện nay. Lúc đó nhà cửa bao gồm:

  • Bên trái cổng chính là năm gian nhà cấp 4, là nơi khám bệnh. Sau này là nhà làm việc của phòng Y vụ và Tài vụ. Hiện nay thuộc vị trí của khu nhà chuyên khoa, cạnh khu nhà này là ngôi nhà cấp 4 có 1 gian to và 2 trái làm khu căng tin, sau là nhà Đông Dược, phòng Tổ chức cán bộ hiện tại là khu nhà chuyên khoa.
  • Dọc theo trục đường bên trái là dãy nhà cấp 4 văn phòng Đảng ủy, Công đoàn, phòng Tổ chức sau đó là phòng Kế hoạch tổng hợp làm việc và bây giờ là vườn hoa. Kế tiếp là 2 nhà khoa Ngoại ( nhà cấp 4 có tầng hầm, sau đó làm nhà cầu nối liền 2 nhà).
  • Bên phải đường có căn nhà gác 2 tầng sàn gỗ hai buồng xép làm khoa Dược, hiện nay là nhà Ban giám đốc. Phía sau bên phải căn nhà này là một dãy nhà xây thấp gồm 5 phòng con, một chiều 2 m, một chiều 3m cùng với hầm sau đó thực dân Pháp dùng để giam giữ những người yêu nước, du kích, các chiến sĩ cách mạng.
  • Tiếp theo là dãy nhà cấp 4 có tầng hầm dài khoảng 35 thước, rộng 6 thước, sau này là khoa Sản hiện là khu nhà thuộc phòng Hành chính quản trị.
  • Khu nhà khoa Nhi hiện nay trước đây là một nhà to lợp mái tôn dùng để sửa xe ô tô. Sau tiếp quản, có thời gian ta dùng làm khu điều trị bệnh nhân.
  • Khoa Truyền nhiễm trước kia là nhà cấp 4 trần hiên, chính là nhà đẻ khi xưa. Phía sau đó chừn 30m là nhà để xác bệnh nhân tử vong.
    • Tổ chức bộ máy bệnh viện sau tiếp quản
  • Phòng khám bệnh: Do một số nhân viên y t ế thay nhau ra khám ( y tá Nguyễn Văn Quý, y tá Lưu Đình Thơm)
  • Khoa dược: làm nhiệm vụ kho Dược là chính, có thêm bộ phận xét nghiệm. Lúc đầu do dược t á Nguyễn Thị Sâm phụ trách.
  • Phòng Điều trị tổng hợp: khoảng 30 giường đến 50 giường.
  • Bộ phận ngoại: chủ yếu giải quyết vết thương phần mềm, chấn thương.
  • Nhà đẻ: chú yếu là đỡ đẻ thường do nữ hộ sinh trung học Kim phụ trách.

Năm 1956 y sĩ Phạm Năng An đi học đại học, bác sĩ Hoàng Ngọc Tần về làm Quản đốc bệnh viện.

  • Bác sĩ Hoàng Bá Hải làm Phó Quản đốc phụ trách khoa Ngoại – Nhà mổ.
  • Bà Nguyễn Thị Nhiễu – Phó Quản đốc chính trị
  • Bà Ninh phụ trách Công đoàn.

Sau khi bà Nguyễn Thị Nhiễu và bà Ninh chuyển công bác thì ông Lê Văn Sắc, Phó Ty y tế về phụ trách công tác Đảng. Ông Nguyễn  Đức, Phó Bí thư phụ trách tổ chức cán bộ.

Lực lượng cán bộ chuyên môn lúc này còn mỏng. Khám Tai mũi họng do y tá Nguyễn Công Phùng đảm nhiệm, khắm Răng do y tá Trần Doãn Cảnh, khám Mắt chưa có ai. Khoa Nội chung do bác sĩ Phạm Quốc Cầm phụ trách. Năm 1957 tách Nội cán bộ do y sĩ Hoàng Đình Vượng, Nội nhân dân do bác sĩ Phạm Quốc Cầm phụ trách. Khoa Ngoại có bác sĩ Hải, khoa Sản có nữ hộ sinh Kim, Nhi có y sĩ Dung ( người miền nam), bộ phận xét nghiệm có y tã Lã Duy Như, X quang có y sĩ Đỗ Phúc Thái và 2 y tá. Chưa có khoa Sinh hóa và Vi sinh. Khoa Dược có dược sĩ trung cấp Nguyễn Đăng Khôi, sau đó dược sĩ  đại học Nguyễn Thị Quỳnh.

Các phòng chức năng: Phòng Y vụ có bà Trần Thị Thanh ( y tá), bộ phận Hành chính quản trị có kế toán ( ông Phạm Văn Nhã, Trần Quý Bổng), văn thư, thủ kho, lái xe.

Năm 1958, bác sĩ Hoàng Tích Tộ về làm Trưởng khoa Ngoại. Cùng khoảng năm đó bác sĩ Bùi Xuân Vĩnh về trường Y tá Hà Đông kiêm phụ trách phòng Khám bệnh và khoa Nhi.

Năm 1959, tỉnh đầu tư xây nhà khoa Nhi ( khoa Y học cổ truyền hiện nay) và khoa Nội cán bộ ( khoa Nội tim mạch lão học hiện nay). Quy mô bệnh viện khoảng từ 100 – 120 giường với khoảng 100 cán bộ công nhân viên.

Năm 1960 bà Ngô Thị Tám về thay bà Nhiễu vừa làm Bí thư liên chi bộ vừa làm công tác Công đoàn ( chi bộ ghép với Đảng ủy Ty Y tế). Năm 1960 – 1961 là năm bệnh viện được bổ sung nguồn nhân lực đáng kể. Bệnh viện được tiếp nhận các bác sĩ tốt nghiệp đại học Y  Hà Nội về nhận công tác.

  • Bác sĩ Nguyễn Quốc Báo về Trưởng khoa Mắt ( thay y sĩ Ứng)
  • Bác sĩ Nguyễn Thị Chinh Trưởng khoa Răng Hàm Mặt
  • Bác sĩ Nguyễn Hùng Lân Trưởng khoa Tai mũi họng ( tách từ khoa Nội, Nhi)
  • Bác sĩ Nguyễn Thị Hoài Đức – Trưởng khoa Sản
  • Bác sĩ Doãn Minh Phương phụ trách xét nghiệm
  • Bác sĩ Lài Trưởng khoa Nhi
  • Dược sĩ Lê Nguyên Công – Trưởng khoa Dược.

Năm 1962, bệnh viện được nhận viện trợ Bệnh viện dã chiến của Chính phủ Nam Tư ( viện trợ không hoàn lại). Một số trang thiết bị được nâng cấp như máy thở ô xy, máy đo thị lực, máy Javal, máy Xquang cả sóng của Đức, nửa sóng của Nga, một số kính hiển vi và các dụng cụ khác. Bệnh viện triển khai một só kỹ thuật thuộc chuyên ngành Mắt, Tai mũi họng,  Răng hàm mặt, Xquang…

Năm 1964, Đế quốc Mỹ bắt đầu đánh phá miền Bắc. Cuối năm bệnh viện xây hầm phẫu thuật ( nay là bể nước khu vườn hoa).

  1. Giai đoạn 1965 – 1974

Trong những năm tháng hào hùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, với tinh thần Tất cả vì miền Nam ruột thịt” “ Tất cả cho tiền tuyến”, vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Cán bộ, thầy thuốc của bệnh viện vẫn kiên cường bám trụ cấp cứu phẫu thuật, điều trị cho thương binh và người bệnh, vừa bảo toàn tài sản và phục vụ cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân ta bảo vệ  Tổ quốc.

Cuối năm 1965, tính Hà Đông và Sơn  Tây sáp nhập. Nhiều cán bộ và dụng cụ của Bệnh viện Sơn Tây được điều chuyển về Bệnh viện Hà Đông. Đầu năm 1969, bệnh viện mang tên Bệnh viện đa khoa Hà Tây I.

Ban lãnh đạo lúc này có sự thay đổi:

  • Bác sĩ Lê Ngọc Tân, Phó Ty Y tế kiêm bệnh viện trưởng.
  • Bà Lê Thị Phương Thảo, bẹnh viện phó Chính Trị
  • Ông Phòng Văn Yến, Bí thư liên chi ủy.
  • Bà Ngô Thị Tám, Thư ký Công đoàn.

Ở các khoa, phòng đã hình thành rõ và bổ sung một số cán bộ và lãnh đạo khoa.

  • Bác sĩ Phạm Năng an, Phó trưởng khoa Ngoại.
  • Bác sĩ Trần Nhật Hiển, Trưởng khoa Phụ sản
  • Bavs sĩ Nguyễn Đăng Tiễn, Phó trưởng khoa Răng Hàm mặt
  • Bác sĩ Đinh Quý Lan, Trưởng khoa Nội cán bộ
  • Bác sĩ Trương Thị Trì, Trưởng khoa Nội nhân dân.
  • Bác sĩ Trương Thị Nhật và sau là bác sĩ Trần Phi Sách, Trưởng khoa Nhi.
  • Bác sĩ Nguyễn Văn Ứng, Trưởng khoa khám bệnh.
  • Dược sĩ trung cấp Nguyễn Đức Thường, phó trưởng khoa Dược.
  • Bác sĩ Hoàng Văn Khiêm, Trưởng khoa Xquang.
  • Bác sĩ Phạm Quốc Cầm, Trưởng khoa xét nghiệm, giải phẫu bệnh.
  • Bác sĩ Đinh Ngọc Tuấn, Trưởng khoa Sinh hóa.

Lúc này bệnh viện có khoảng 200 giường bệnh, 150 cán bộ. Trong đó 19 bác sĩ, 3 dược sĩ đại hcoj và 24 y sĩ.

Năm 1965, bệnh viện được đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cũng như bổ sung lực lượng cán bộ, tăng giường bệnh. Cả nước ta cùng lúc thực hiện hai nhiệm vụ: bảo toàn tài sản vừa sản xuất, vừa chiến đấu.

Chi viện cho miền Nam với tinh thần “ thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”.

Chấp hành lệnh sơ tán của tỉnh, bệnh viện đã 2 lần đi sơ tán:

  • Lần thứ nhất từ năm 1965 – 1969.
  • Lần thứ hai từ năm 1971 – 1972.

Sơ tán lần thứ nhất:

Khối Nội Nhi sơ tán về làng Chuông huyện Thanh Oai. Khoa Lây ở xã Liên Châu. Khoa Ngoại sơ tán về Quảng Bị – Chương Mỹ, Thanh Lãm – Thanh Oai sau tập trung về Đồng Mai – Thanh Oai, khoa Sản ở xã Hợp Đồng – Chương Mỹ.

Sơ tán lần thứ hai ( ngày 21/4/1971)

Các khoa Mắt, Tai mũi họng, Răng hàm mật vè Phú Lãm – Thanh Oai. Khoa Lây, Nhi về Đồng Mai – Thanh Oai.

Các phòng chức năng ở thôn Cổ Bản – Đồng Mai, khối cận lâm sàng ở Thanh Lãm, khoa Ngoại, Sản ở Quảng Bị – Chương Mỹ.

Đêm, bệnh viện vẫn triển khai phẫu thuật tại bệnh viện, sau đó chuyển bệnh nhân hậu phẫu xuống hầm mổ điều trị. Đây là thời kỳ hết sức khó khăn đối với bệnh viện, cơ sở phân tán, các khoa phòng giảm 30 – 50% số giường. Một só khoa phải sáp nhập lại với nhau. Bệnh viện vẫn để lại một số khoa phòng ở lại thị xã bám trụ cùng với đội tự vệ chiến đấu. Đồng chí Đặng Văn Bưu – đại đội phó tự vệ trực tiếp chỉ huy đại hội tự vệ chiến đấu. Thời gian này, giặc Mỹ leo thang ném bom miền Bắc, bệnh viện đã cử nhiều đoàn phẫu thuật chi viện cho chiến trường Quảng Bình, Vĩnh Ninh. Nhiều đội cấp cứu và phẫu thuật tham gia cấp cứu thương binh tại các trận địa Suối Hai, Cầu Giẽ.

Cuối năm 1972 bệnh viện trở về nơi cũ, cơ sở vật chất xuống cấp. Cả bệnh viện chỉ có 2 buồn mổ, một nhà xây cấp 4, các chuyên khoa phải mổ tại khoa mình. Bệnh viện vẫn phát triển một số kỹ thuật. Trường Đại học Y Hà Nội và Trường Đại học Quân y vẫn gửi học sinh ra thực tập.

  1. Giải đoạn 1975 – 1994

Năm 1975 miền Nam hoàn toàn giải phóng. Một số cán bộ trở về miền Nam trong đó có bác sĩ Trần Công Tráng ( bệnh viện trưởng).

Do nhu cầu khám chữa bệnh, UBND tỉnh quyết định tăng giường điều trị cho bệnh viện lên 500 giường.

Cơ cấu bệnh viện lúc này gồm: Ban lãnh đạo do bác sĩ Hoàng Đình Vượng làm bệnh viện trưởng; 4 phòng chức năng là phòng Y vụ, Tài vụ, Hành chính quản trị, Tổ chức cán bộ; 11 khoa lâm sàng, 7 khoa cận lâm sàng.

Năm 1976 tỉnh Hà Tây sáp nhập với tỉnh Hòa Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình. Bệnh viện Hà Tây được giao nhiệm vụ là Bệnh viện Hà Sơn Bình, là tuyến cuối của tuyến điều trị trong tỉnh. Quy mô bệnh viện là 520 giường bệnh. Cơ cấu các khoa phòng cơ bản như cũ. Trong giai đoạn này, thực hiện chủ trương của Bộ Y tế, bệnh viện đã cử đoàn cán bộ gồm các bác sĩ, y tá tham gia phòng chống dịch sốt rét, chi viện cho các tỉnh mới giải phóng như Sông Bé, Lâm Đồng, Bình Định…

Năm 1981 thành lập phòng Mổ tách từ khoa Ngoại. Năm 1982 khoa Nội nhân dân sáp nhập với Nội cán bộ do trưởng khoa đi học, thuyên chuyển công tác. Năm 1981 thành lập khoa Hồi sức cấp cứu với 10 giường bệnh. Năm 1985 thành lập đơn nguyên Lao với 10 giường điều trị. Năm 1990 triển khai phòng khám Da liễu và tâm thần, sáp nhập bộ phận lái xe về phòng Y vụ, thành lập khoa Phục hồi chức năng trên cơ sở bộ phận vật lý trị liệu thuộc chuyên khoa Xquang.

Trong giai đoạn này cơ sở vật chất được đầu tư gồm:

  • Xây 2 dãy nhà cấp 4 cho khoa Nội nhân dân ( nay là vị trí của Ban bảo vệ sức khỏe cán bộ tỉnh)
  • Xây 4 phòng Mổ mới, nhà Mổ cũ ( nhà cấp 4) làm khoa Hồi sức cấp cứu ( nay thuộc trung tâm kỹ thuật cao).
  • Xây nhà Bếp để triển khai khoa Dinh dưỡng ( nay là vị trí của Trung tâm kỹ thuật cao).
  • Xây 3 gian nhà cấp 4 cho phòng Quản trị.

Lúc này đời sống nhân dân nói chung còn khó khăn. Đời sống cán bộ bệnh viện càng khó khăn hơn. Mỗi người phải tự túc 1 tháng lương thực. Các khoa trong bệnh viện phải liên hệ các địa phương xin ruộng cấy. Bệnh viện tổ chức 1 đoàn gồm 120 người thuộc các khoa lên trồng sắn tại Đồng Mô, Ngải Sơn, đi chặt cây dưới lòng hồ Hòa Bình. Trong những năm tháng gian nan ấy, bệnh viện  vẫn lập nên nhiều thành tích trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc XHCN. Tên tuổi của một số thầy thuốc Bệnh viện được nhiều người trong ngành y tế cả nước lúc bấy biết đến như  bác sĩ Nguyễn Khắc Thuật, bác sĩ Hoàng Tích Tộ, bác sĩ Trần Nhật Hiển.

Năm 1991, tỉnh Hà Sơn Bình tác thành 2 tỉnh Hà Tây và Hòa Bình. Ngày 20/09/1991, UBND tỉnh ký quyết định số 344/QĐ-UB tách Sở Y tế Hà Sơn Bình thành Sở Y tế Hà Tây và Sở Y tế Hòa Bình. Kể từ đó Bệnh viện tỉnh Hà Sơn BÌnh trở thành bệnh tỉnh Hà Tây. Ban lãnh đạo do bác sĩ Nguyễn Hùng mưu, Phó giám đốc Sở Y tế kiêm Giám đốc bệnh viện. Bệnh viện có quy mô 400 giường bệnh, có 4 phòng chức năng, 13 khoa lâm sàng và 7 khoa cận lâm sàng. Cơ sở vật chất được nâng cấp, xây dựng. Đơn nguyên 1 tại phòng khám ( 02 tầng), cải tạo nhà Tiêu hóa ( khoa  Đông Y hiện nay) trang bị một số thiết bị phục hồi chức năng.

  1. Giai đoạn 1995 – 2003

Đây là giai đoạn bệnh viện được đầu tư nguồn lực mới. Đầu năm 1996, bệnh viện được nhận dự án nâng cấp khoa Hồi sức cấp cứu. Bệnh viện được nhận 2 máy thở, 2 máy monitor, 2 máy hút điện, 2 máy tách oxy, 1 máy bơm tiêm điện.

Giữa năm 1998, bệnh viện được nhận dự án nâng cấp bệnh viện từ nguồn vốn ODA của Chính phủ Tây Ban Nha trị giá 5 triệu USD về trang thiết bị gồm máy chụp cắt lớp, X quang truyền hình tăng sáng, thận nhân tạo, nội soi tiêu hóa, xét nghiệm sinh hóa, monitor, máy giặt…

UBND tỉnh Hà Tây cũng đầu tư vốn đối ứng xây nhà Trung tâm kỹ thuật cao, nâng cấp khoa Dược, nhà Ban giám đốc, xây mới nhà Dinh dưỡng và nhà tiếp đón. Bệnh viện thực hiện các kỹ thuật của bệnh viện hạng II, đặc biệt phẫu thuật tiêu hóa như cắt dạ dày, gan mật, xử lý chấn thương bụng phức tạp. Bộ máy tổ chức cơ bản không có gì thay đổi. Lãnh đạo bệnh viện thời kỳ này do BSCKII Đặng Đức Hậu làm giám đốc. Tháng 3/2003 bác sĩ Đặng Đức Hậu nghỉ hưu, Tiến sĩ Nguyễn Văn Bình, Phó giám đốc Sở Y tế kiêm Giám đốc bệnh viện. Lúc này kinh phí hạn hẹp, các trang thiết bị không đủ kinh phí bảo dưỡng xuống cấp, phát huy tác dụng hạn chế. Bệnh viện chuẩn bị chuyển sang cơ chế tự chủ của Nghị định 10/CP. Bệnh viện tiếp tục đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất như khoa Nhi, nhà Tang lễ, cải tạo khu vệ sinh Ngoại, Sản, chuyên khoa, triển khai xây mới nhà chuyên khoa Tai mũi họng, Răng hàm mặt, Mắt. Tháng 9/2003, Tiến sĩ Nguyễn Văn Bình chuyển công tác về Bộ Y tế, Tiến sĩ, BSCKII Nguyễn Gia Thức làm Giám đốc bệnh viện cho đến nay.

  1. Từ năm 2003 đến năm 2008

Bệnh viện chuyển sang thực hiện Nghị định 10/NĐ-CP và nghị định 43/NĐ-CP của Chính phủ. Bệnh viện hoạt động theo phương thức đơn vị sự nghiệp tự chủ một phần kinh phí. Bệnh viện đã sắp xếp lại guồng máy khám chữa bệnh. Đưa tin học vào quản lý bệnh viện, đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong các công việc bán chuyên môn như vệ sinh, giặt là, xử lý chất thải rắn… Liên kết với các đơn vị, đầu tư  trang thiết bị như máy đặt xét nghiệm nước tiểu, xét nghiệm tế bào, xét nghiệm sinh hóa, chụp cắt lớp, thận nhân tạo. Bệnh viện cũng tranh thủ các nguồn dự án phòng chống dịch, trang bị các máy thở, monitor, máy hút. Tranh thủ viện trợ của Đại sứ quán Nhật bản, tiếp nhận máy phẫu thuật nội soi trị giá trên 93 ngàn USD. Mặt khác  bệnh viện tranh thủ sự đầu tư của tỉnh, mua máy siêu âm 3 chiều, máy phẫu thuật nội soi tiết niệu và tán sỏi. Bệnh viện cũng tăng cường cử cán bộ đi đào tạo miền Nam và miền Bắc. Bệnh viện đã triển khai một số kỹ thuật khó như mổ sọ não ( lấy máu tụ, áp xe, u não), phẫu thuật cột sống, phẫu thuật tiêu hóa, phẫu thuật chấn thương chỉnh hình và tạo hình phức tạp, thay chỏm xương đùi, thay khớp háng, nối mạch máu và thần kinh ngoại vi, phẫu thuật nội soi mũi xoang, tiếu niệu, tán sỏi niệu quản.

  • Quy mô bệnh viện ngày càng được củng cố.

Năm 2004 thành lập đơn nguyên Cấp cứu thuộc khoa hồi sức cấp cứu.

Năm 2005 thành lập khoa Chấn thương, Ngoại Tổng hợp, Nội tiêu hóa, Nội tổng hợp, Nội tim mạch –  lão học, khoa Thăm dò chức năng, phòng Vật tư trang thiết bị y tế.

Năm 2006, quy mô bệnh viện lên 450 giường với 6 phòng chức năng và 26 khoa lâm sàng, cận lâm sàng.

  • Cơ sở vật chất bệnh viện được quan tâm cải tạo đáng kể.

Năm 2005 tỉnh ủy Hà Tây có nghị quyết ưu tiên đầu tư cho Bệnh viện đa khoa tỉnh.

Bệnh viện đã quy hoạch lại, cải tạo nâng cấp vườn hoa, hệ thống đường nội bộ, hệ thống cống rãnh, xử lý chất thải lỏng và chất thải rắn. Tiếp tục cải tạo nâng cấp nhà khoa Ngoại, sản, Nội tim mạch, Nội tổng hợp, Nội tiêu hóa ( nhà khoa YHCT), khoa HSCC. Đã xây mới đơn nguyên AIDS, đơn nguyên 3 phòng khám, và bắt đầu triển khai hệ thống nhà cầu làm thay đổi căn bản bộ mặt Bệnh viện và nâng cấp buồng bệnh đáp ứng yêu cầu điều trị bệnh nhân.

Bệnh viện đã tranh thủ sự hỗ trợ của các bệnh viện Trung ương như: Bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức, Phụ sản Trung ương, Nhi, Huyết học truyền máu, 103… trong đào tạo cán bộ, chuyển giao kỹ thuật, mở nhiều lớp tập huấn chuyên môn.

Bệnh viện cũng phối hợp với các cơ sở đào tạo, tiếp nhận hàng ngàn học sinh, sinh viên mỗi năm đến thực tập. Bệnh viện là  cơ sở thực hành của Học viện Quân y ( với 21 giảng viên kiêm chức), học viện Y học cổ truyền Việt Nam ( Tuệ Tĩnh), Trường cao đẳng Y tế Hà Đông và nhiều trường trung học y té trong và ngoài công lập khác…

Bệnh viện còn tham gia nhiều hoạt động xã hội, phục vụ nhiệm vụ chính trị trên địa bàn như:

  • Phòng chống có hiệu quả các bệnh dịch nguy hiểm tại Bệnh viện và cộng đồng được cấp trên khen thưởng.
  • Tham gia diễn tập cấp quốc gia về phòng chống thảm họa, tham gia “ diễn tập phòng thủ khu vực Ht – 06” với 120 giường bệnh viện dã chiến được cấp trên tặng bằng khen.
  • Tham gia y tế phục vụ Seagame, được Bộ Y tế khen thưởng…
  • Tham gia khám cấp thuốc miễn phí cho các đối tượng chính sách, tổ chức bữa ăn miễn phí cho người nghèo tại Bệnh viện…
  • Tham gia các hội thao Quốc phòng, hội diễn văn nghệ, giải cầu lông đạt được các giải thứ hạng cao.
  1. Từ tháng 8/2008 đến nay

Thực hiện nghị quyết 15/NQ-QH của Quốc hội khóa XII ngày 29/5/2008, từ ngày 1/8/2008 thành phố Hà Nội và tỉnh Hà Tây hợp nhất lại. Các ban, ngành của 2 tỉnh cũng hợp nhất lại làm một. Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà  Tây trở thành một đơn vị trực thuộc Sở Y tế Hà Nội và được đổi tên thành Bệnh viện đa khoa Hà Đông. Bệnh viện trở thành Bệnh viện đa khoa tuyến thành phố của ngành Y tế Thủ đô.

Bệnh viện tiếp tục sắp xếp lại hệ thống khám chữa bệnh, đào tạo cán bộ, đầu tư trang thiết bị, phấn đấu xây dựng các tiêu chuẩn của Bệnh viện đa khoa hạng I.

Tháng 10/2009 thành lập khoa Cấp cứu và khoa Hồi sức tích cực trên cơ sở tách khoa Hồi sức cấp cứu.

Thành lập đơn nguyên Huyết học lâm sàng, đơn vị Thận học ( thận nhân tạo) với 6 máy lọc máu.

Bệnh viện tiếp tục sắp xếp lại hệ thống khám chữa bệnh theo hướng gọn nhé, hiệu quả. Phát triển các mũi nhọn với các chuyên ngành sâu. Đẩy mạnh  xã hội hóa, đầu tư các thiết bị Xquang kỹ thuật số,  tán sỏi ngoài cơ thể… và triển khai các dự án nâng cấp trang thiết bị Bệnh viện giai đoạn 2009 – 2010 và các giai đoạn tiếp theo. Bệnh viện mở rộng các quan hệ hợp tác giữa các Bệnh viện trong và ngoài nước. Bệnh viện ký hợp tác với bệnh viện trường đại học Ajou, Hàn Quốc trong việc khám sức khỏe cho người nước ngoài và cộng đồng, đào tạo cán bộ giai đoạn 2009 – 2013. Tháng 3/2010, Bệnh viện được Bộ Y  tế quyết định là một trong 8 bệnh viện vệ tinh của Bệnh viện Bạch Mai. Bệnh viện tiếp tục triển khai các kỹ thuật phẫu thuật nội soi về tiêu hóa, Sản phụ khoa, phẫu thuật Faco và các kỹ thuật chuyên sâu khác.

Cơ sở vật chất tiếp tục được nâng cấp như: xây mới khoa Khám bệnh, hệ thống nhà cầu, nhà làm việc cho các phòng ban.

Hiện nay, Bệnh viện có nhiệm vụ khám chữa bệnh cho nhân dân khu vực Tây nam của Hà Nội và các địa bàn lân cận. Bệnh viện đang triern khai đề án 1816 hỗ trợ cho tuyến trước và tham gia Ban chủ nhiệm đầu ngành về Ngoại và Sản. Quy mô của Bệnh viện là 520 giường  bệnh kế hoạch, thực kê là 600 giường. Bệnh viện có 6 phòng chức năng và 27 khoa lâm sàng và cận lâm sàng. Biên chế có 515 cán bộ, viên chức, trong đó có 120 bác sĩ, dược sĩ 9 90 thầy thuốc có trình độ sau đại học: Tiến sĩ, Thạc sĩ, BSCKI, BSCKII…) cùng đội ngũ điều dưỡng, cao đẳng giàu kinh nghiệm chuyên môn.

Bệnh viện vẫn tiếp tục đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Từng bước hiện đại hóa trong công tác quản lý Bệnh viện. Quản lý thu chi viện phí và BHYT đảm bảo chế độ năm sau cao hơn năm trước, đảm bảo các hoạt động của Bệnh viện và có phần tích lũy, ngày một nâng cao nguồn lực kinh phí của bệnh viện.

Công tác nghiên cứu khoa học luôn được quan tâm. Hàng năm, Bệnh viện đã tham gia 1-3 đề tài cấp Bộ, cấp Thành phố và trên dưới 20 đề tài cấp cơ sở. Nhiều đề tài đã được nghiệm thu đạt xuất sắc, nhiều cá nhân được nhận Bằng khen sáng kiến sáng tạo. Công tác thi đua cũng được quan tâm chú trọng. Từ năm 2003 đến nay, Bệnh viện liên tục đạt “ danh hiệu cơ quan văn hóa” cấp phường và cấp quận. Đảng bộ Bệnh viện liên tục đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh ( 7 năm liền). Bệnh viện liên tục đạt danh hiệu “ Bệnh viện xuất sắc toàn diện: 2004, 2005, 2006, 2007,2008, 2009.

Tháng 5 năm 2010, Bệnh viện được UBND thành phố Hà Nộ quyết định nâng hạng lên Bệnh viện đa khoa hạng I.

Trong quá trình phấn đấu không ngừng, Bệnh viện đa khoa Hà Đông đã vinh dự được đón nhận nhiều giải thưởng, danh hiệu cao quý.

  1. Thành tích hoạt động qua các thời kỳ

Năm 2001: Ủy ban phòng chống AIDS và tệ nạn xã hội tặng cờ đơn vị xuất sắc.

Năm 2003: Đạt danh hiệu “ Bệnh viện xuất sắc toàn diện”

Năm 2004: Bộ Y tế tặng bằng khen đạt danh hiệu” Bệnh viện xuất sắc toàn diện”

Năm 2005: Bộ Y tế tặng bằng khen đạt danh hiệu “ Bệnh viện xuất sắc toàn diện”

Công đoàn Y  tế Việt Nam tặng cờ thi đua” Bệnh viện xuất sắc toàn diện”

Năm 2006:

  • Bộ Y tế tặng bằng khen đạt danh hiệu “ Bệnh viện xuất sắc toàn diện”
  • Công đoàn Y tế Việt Nam tặng cờ thi đua “ Bệnh viện xuất sắc toàn diện”
  • Bằng khen của Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn về thành tích xuất sắc trong diễn tập thực nghiệm thu dung cấp cứu nạn nhân hàng loạt do thảm họa.
  • Bằng khen của UBND tỉnh Hà Tây tặng đơn vị có nhiều thành tích trong công tác Quân dân y.
  • Cờ của Liên đoàn lao động tỉnh Hà Tây tặng Công đoàn cơ sở xuất sắc nhất trong phong trào xanh, sạch, đẹp, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động năm 2006.
  • Bằng khen của Liên đoàn lao động tỉnh Hà Tây về công tác xây dựng bệnh viện xanh, sạch, đẹp, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động.

Năm 2007:

  • Thủ tướng chính phủ tặng bằng khen vì đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
  • Bằng khen của Bộ Y tế tặng danh hiệu “ Bệnh viện xuất sắc toàn diện”
  • Bằng khen của Bộ quốc phòng về công tác dự bị động viên năm 2003 – 2007
  • Bằng khen của UBND tỉnh Hà Tây về công tác kết hợp Quân dân y năm 2007.
  • Đạt danh hiệu đơn vị xuất sắc cấp tỉnh.

Năm 2008:

  • UBND Thành phố Hà Nội tặng: Cờ đơn vị thi đua xuất sắc.
  • Công đoàn ngành Y tế Việt Nam tặng Bằng khen về phong trào thi đua.
  • Đạt danh hiệu Quyết thắng của Bộ tư lệnh thủ đô.
  • Bằng khen của Bộ Y tế tặng danh heieuj Bệnh viện xuất sắc toàn diện.

Năm 2009:

  • Bằng khen của Bộ Y tế tặng danh hiệu “ Bệnh viện xuất sắc toàn diện”
  • Công đoàn Y tế Việt Nam tặng cờ Bệnh viện xuất sắc toàn diện
  • Bằng khen của UBND thành phố tặng đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
  • Tổng hội y học Việt Nam bình chọn và tặng cúp vàng “ Vì sức khỏa người Việt”
  • Bộ y tế tặng bằng khen về thành tích phục vụ Đại hội thể thao Châu Á trong nhà.
  • Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam tặng “ Huân chương lao động hạng ba”

Như vậy 6 năm liên tục, Bệnh viện đa khoa Hà Đông đạt danh hiệu “ Bệnh viện xuất sắc toàn diện” được Bộ Y tế tặng bằng khen, Công đoàn Y té Việt Nam tặng cờ thi đua và nhiều danh hiệu khác.

Năm 2010. Tập thể cán bộ, viên chức Bệnh viện đa khoa Hà Đông long trọng tổ chức kỷ niệm “ 100 năm xây dựng và phát triển” của bệnh viện. Nhìn lại chặng đường phấn đấu vẻ vang trên con đường xây dựng và trưởng thành của bệnh viện, tập thể thầy thuốc Bệnh viện đa khoa Hà Đông luôn tự hào về các thế hệ cha anh, với những năm tháng đầy khó khăn không thể nào quên. Chúng ta cũng tự hào về sự phát triển hiện nay của Bệnh viện và tin tưởng vào vị thế của một bệnh viện đa khoa hạng I, có quy mô lớn vào bậc nhất của ngành Y tế thủ đô. Chúng ta càng phải ý thức trách nhiệm, ra sức phấn đấu, đoàn kết một lòng, khắc phục mọi khó khăn, quyết tâm xây dựng một Bệnh viện Chính quy, văn minh và hiện đại, một địa chỉ tin cậy không chỉ của người dân thủ đô mà cả với nhân dân trong vùng, xứng đáng với sự quan tâm, chăm lo của Đảng bộ, Chính quyền Thành phố và sự tin cậy của người bệnh. Thành tựu của Bệnh viện cũng sẽ là món quà thiết thực nhất, cùng nhân dân thủ đô chào mừng đại lễ “ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội”.

 

CHIA SẺ

0 BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN