Quá trình hình thành

Nằm trên địa bàn thị xã Hà Đông ( nay là quận Hà Đông), Bệnh viện Đa khoa Hà Đông gắn liền với sự hình thành và phát triển của thị xã Hà Đông và tỉnh Hà Tây ( cũ). Từ trung tâm Hà Nội vượt qua cầu Trắng bắc qua sông Nhuệ chừng 1 km có một bệnh viện nằm khiêm tốn bên con phố nhỏ tại số 2 Bế Văn Đàn, cách trục đường Quang Trung chừng 100m.

0
1145

Nằm trên địa bàn thị xã Hà Đông ( nay là quận Hà Đông), Bệnh viện Đa khoa Hà Đông  gắn liền với sự hình thành và phát triển của thị xã Hà Đông và tỉnh Hà Tây ( cũ). Từ trung tâm Hà Nội vượt qua cầu Trắng bắc qua sông Nhuệ chừng 1 km có một bệnh viện nằm khiêm tốn bên con phố nhỏ tại số 2 Bế Văn Đàn, cách trục đường Quang Trung chừng 100m. Đó chính là cơ sở khám chữa bệnh lớn nhất của tỉnh Hà Tây, Hà Sơn Bình nay là của thành phố Hà Nội. Có biết bao thế hệ cán bộ từng dày công đóng góp xây dựng vì sự phát triển của bệnh viện, song ít ai biết đến bệnh viện có từ bao giờ và những năm tháng xây dựng và phát triển của nó.

  1. Giai đoạn 1904 – 1020

Theo cuốn “ Thị xã Hà Đông xưa và nay” thì tình Hà Đông được thành lập vào năm 1904 bao gồm 3 phủ cũ được gọi là 11 huyện có tên gọi là Hoài Đức, Từ Liêm, Đan Phượng, Hoàn Long, Thanh Trì, Thường Tín, Thanh Oai, Chương Mỹ, Ứng Hòa, Mỹ Đức, Phú Xuyên.  Tỉnh lỵ Hà Đông ( lúc đó chưa gọi là thị xã) chiếm diện tích nhỏ hẹp khoảng 0,5km2 trên đất ruộng làng Cầu Đơ, thuộc Tổng Thanh Oai Thượng và chỉ có 30 xuất đinh trong tổng số hơn 1000 người. Từ năm 1904 đến 1910 sở Công Chính chỉ tu bổ những con đường hiện đã có mà thôi, xây những cầu mới một cách giản dị bền chặt hơn các cầu cũ. Thị xã Hà Đông chiềm một khoảng đất dọc 2 bên đường quốc lộ 6 có chiều dài chừng 1 km từ đầu cầu Hà Đông xuống. Năm 1904 lập chợ Hà Đông, năm 1910 bệnh viện được hình thành, lúc đầu là Nhà thương tỉnh lỵ còn gọi là nhà thương làm phúc, nay là Bệnh viện đa khoa Hà Đông. Cơ sở vật chất lúc đó còn nghèo nàn, thô sơ, ở khu vực sân bay nay là phố Bế Văn Đàn, phố Me nay là phố Phan Đình Phùng và khu biệt thự của công chức cao cấp hầu hết là người Pháp. Năm 1918 lập thêm nhà Hộ sinh ở trong nhà thương. Trong tỉnh đặt thêm 19 nhà trạm nữa.

Khu vực bên trái đường bao gồm vường hòa đầu cầu, câu lạc bộ người Pháp nay là nhà Văn hóa Trung tâm thiếu nhi thị xã. Sở Lục Lộ nay là sở Giao thông công chính, sở Cẩm ( sở cảnh sát) nay là xí nghiệp in Hà Tây ( cũ). Nhà thờ Thiên chúa giáo Hà Đông xây vào năm 1914.

  1. Giai đoạn 1921 – 1953

Giai đoạn này địa phận thị xã Hà Đông mới kéo dài đến  Bóp Kén ( nay là Nhà thi đấu Hà Đông) và phố Bông Đỏ từ đường 6 đi sâu vào phía chợ có 5 trục chính: Phố Nguyễn Hữu Độ ( phố Lê Lợi ngày nay), phố Fulsferrg ( phố Trưng Nhị) người dân quen gọi là phố Nhà Thờ. Phố Trưng Trắc chỉ có một đoạn ngắn trước cổng UBND quận Hà Đông, phố Gia Long ( 1947 – 1954) nay là phố Bà Triệu. Phố Nguyễn Trãi ( trước không rõ tên) chạy cắt ngang 5 trục phố này là phố Duvillers nay là phố Hoàng Hoa Thám. Phố Duy Tân nay là phố Trần Hưng Đạo, phố Minh Khai và phố Trần Hưng Đạo trước kia chưa rõ tên. Bước vào năm 1930 sân vận động thị xã khánh thành có tên là Yvesalen ( tên của viên thống chế Pháp).

Năm 1940 chính quyền bảo hộ Pháp quyết định nâng cấp tỉnh lỵ Hà Đông lên cấp thị xã thuộc đô thị loại IV. Đây là bước phát triển mới của tỉnh lỵ Hà Đông sau 36 năm chính thức thành lập. Các cơ quan chủ yếu đặt hai bên trục đường 6, phía nam bên phải là trại lính, khu công chức, kho bạc, nhà thương và sân bay. Phía bên trái là bưu chính, máy nước, đốc học trường, các trường tiểu học, dân cư chỉ khoảng 3000 người.

Thực ra, Nhà thương thực sự nhận bệnh nhân để khám và điều trị vào khoảng năm 1930, chủ yếu là khám đên đơn ngoại trú, đỡ đẻ thường. Lúc này người Pháp đặt tên cho bệnh viện là “  Bệnh viện người bản xứ” hay nahf thương bản xứ. Cơ sở vật chất lúc đó chỉ có khoảng 7 ngôi nhà cấp 4. Hiện nay còn  lại phần nền móng và đã được nâng cấp đó là: khoa Dược ( nay là nhà Ban giám đốc), nhà đẻ ( nay là khu nhà khoa Truyền nhiễm), nhà điều trị bệnh nhân nội trú ( Salla des malades) nay là nhà thuộc phòng Hành chính quản trị.

Quy mô lúc đó bao gồm phòng Khám bệnh, khoa Dược cấp phát thuốc và có pha nước cất, phòng xét nghiệm, nhà đẻ đỡ đẻ thường, khoa điều trị nội trú khoảng 20 giường, chủ yếu điều trị các bệnh nội khoa, truyền nhiễm. Phòng hành chính chủ yếu để cấp giấy khai sinh. Nhà xác chứa bệnh nhân tử vong khoảng 20 m2.

Về nhân lực: tổng số khoảng 30 người.

  • 01 bác sĩ người Pháp phụ trách là bác sĩ Letoze.
  • 01 bác sĩ Đông Dương là Nguyễn Ngọc Thiện
  • 01 dược sĩ là Nguyễn Văn Thuyết phụ trách khoa Dược và phòng xét nghiệm.
  • 01 nữ hộ sinh là Nguyễn Thị Tý và một số y tá, hộ lý.

Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, sau khi Trung đoàn Thủ đô rút khỏi Hà Nội. Năm 1947 người Pháp chiếm bệnh viện dùng làm bốt và là nơi chữa bệnh cho binh lính ( bệnh viện Quân sự), bệnh viện dân sự ra ngoài thành phố.

  1. Giai đoạn 1954 – 1964

Ngày 6/10/1954 thị xã Hà Đông được giải phóng. Một đơn vị bộ đội có 3 cán bộ y tế đến tiếp quản bệnh viện. Sau đó nửa tháng đoàn cán bộ y tế chính thức tiếp quản bệnh viện. Lúc này bệnh viện được mang tên là Bệnh viện Hà Đông

Quản đốc bệnh viện đầu tiên sau hòa bình lập lại là y sĩ Phạm Năng An.

  • Y sĩ Vũ Quang Điệp ( đảng viên phụ trách đoàn thể)
  • Y tá Nguyễn Đức Kế
  • Y tá Nguyễn Công Phùng
  • Y tá Cao Văn Tích
  • Nữ hộ sinh trung học ( Bà Kim)
  • Kế toán Phạm Đức Thành
  • Công nhân Nguyễn Văn Nho, Nguyễn Văn Mậu, Đào Phúc Tường ( sau đi học y tá, y sĩ)
  • Cấp dưỡng Nguyễn Thị Măng và một số hộ lý khác.

Sau 2 tuần nghe ngóng, một số cán bộ y tế làm việc tại bệnh viện từ trước ngày giải phóng thị xã đã trở lại bệnh viện. Nhóm cán bộ y tá đó là: y tá Lưu Đình Thơm, lã Duy Như, Trần Hải, Dương Thiện Đàm, Nguyễn Văn Quý, Nguyến  Bảo  Đán, Đoàn Như Hải, Bùi Đăng Thu, Nguyễn Hữu Duyệt và một vài người khác, riêng y tá Lưu Đình Thơm đem theo một số dụng cụ phục vụ người bệnh nộp cho Ban Quản đốc.

  • Cơ sở vật chất

Diện tích bệnh viện chừng 5 ha được xây dựng tưởng xung quanh. Khi đó bệnh viện có 2 cổng, một cổng chính như hiện nay, một cổng phụ nằm giữa Trung tâm Kỹ thuật cao và khoa Nội tim mạch hiện nay. Lúc đó nhà cửa bao gồm:

  • Bên trái cổng chính là năm gian nhà cấp 4, là nơi khám bệnh. Sau này là nhà làm việc của phòng Y vụ và Tài vụ. Hiện nay thuộc vị trí của khu nhà chuyên khoa, cạnh khu nhà này là ngôi nhà cấp 4 có 1 gian to và 2 trái làm khu căng tin, sau là nhà Đông Dược, phòng Tổ chức cán bộ hiện tại là khu nhà chuyên khoa.
  • Dọc theo trục đường bên trái là dãy nhà cấp 4 văn phòng Đảng ủy, Công đoàn, phòng Tổ chức sau đó là phòng Kế hoạch tổng hợp làm việc và bây giờ là vườn hoa. Kế tiếp là 2 nhà khoa Ngoại ( nhà cấp 4 có tầng hầm, sau đó làm nhà cầu nối liền 2 nhà).
  • Bên phải đường có căn nhà gác 2 tầng sàn gỗ hai buồng xép làm khoa Dược, hiện nay là nhà Ban giám đốc. Phía sau bên phải căn nhà này là một dãy nhà xây thấp gồm 5 phòng con, một chiều 2 m, một chiều 3m cùng với hầm sau đó thực dân Pháp dùng để giam giữ những người yêu nước, du kích, các chiến sĩ cách mạng.
  • Tiếp theo là dãy nhà cấp 4 có tầng hầm dài khoảng 35 thước, rộng 6 thước, sau này là khoa Sản hiện là khu nhà thuộc phòng Hành chính quản trị.
  • Khu nhà khoa Nhi hiện nay trước đây là một nhà to lợp mái tôn dùng để sửa xe ô tô. Sau tiếp quản, có thời gian ta dùng làm khu điều trị bệnh nhân.
  • Khoa Truyền nhiễm trước kia là nhà cấp 4 trần hiên, chính là nhà đẻ khi xưa. Phía sau đó chừn 30m là nhà để xác bệnh nhân tử vong.
    • Tổ chức bộ máy bệnh viện sau tiếp quản
  • Phòng khám bệnh: Do một số nhân viên y t ế thay nhau ra khám ( y tá Nguyễn Văn Quý, y tá Lưu Đình Thơm)
  • Khoa dược: làm nhiệm vụ kho Dược là chính, có thêm bộ phận xét nghiệm. Lúc đầu do dược t á Nguyễn Thị Sâm phụ trách.
  • Phòng Điều trị tổng hợp: khoảng 30 giường đến 50 giường.
  • Bộ phận ngoại: chủ yếu giải quyết vết thương phần mềm, chấn thương.
  • Nhà đẻ: chú yếu là đỡ đẻ thường do nữ hộ sinh trung học Kim phụ trách.

Năm 1956 y sĩ Phạm Năng An đi học đại học, bác sĩ Hoàng Ngọc Tần về làm Quản đốc bệnh viện.

  • Bác sĩ Hoàng Bá Hải làm Phó Quản đốc phụ trách khoa Ngoại – Nhà mổ.
  • Bà Nguyễn Thị Nhiễu – Phó Quản đốc chính trị
  • Bà Ninh phụ trách Công đoàn.

Sau khi bà Nguyễn Thị Nhiễu và bà Ninh chuyển công bác thì ông Lê Văn Sắc, Phó Ty y tế về phụ trách công tác Đảng. Ông Nguyễn  Đức, Phó Bí thư phụ trách tổ chức cán bộ.

Lực lượng cán bộ chuyên môn lúc này còn mỏng. Khám Tai mũi họng do y tá Nguyễn Công Phùng đảm nhiệm, khắm Răng do y tá Trần Doãn Cảnh, khám Mắt chưa có ai. Khoa Nội chung do bác sĩ Phạm Quốc Cầm phụ trách. Năm 1957 tách Nội cán bộ do y sĩ Hoàng Đình Vượng, Nội nhân dân do bác sĩ Phạm Quốc Cầm phụ trách. Khoa Ngoại có bác sĩ Hải, khoa Sản có nữ hộ sinh Kim, Nhi có y sĩ Dung ( người miền nam), bộ phận xét nghiệm có y tã Lã Duy Như, X quang có y sĩ Đỗ Phúc Thái và 2 y tá. Chưa có khoa Sinh hóa và Vi sinh. Khoa Dược có dược sĩ trung cấp Nguyễn Đăng Khôi, sau đó dược sĩ  đại học Nguyễn Thị Quỳnh.

Các phòng chức năng: Phòng Y vụ có bà Trần Thị Thanh ( y tá), bộ phận Hành chính quản trị có kế toán ( ông Phạm Văn Nhã, Trần Quý Bổng), văn thư, thủ kho, lái xe.

Năm 1958, bác sĩ Hoàng Tích Tộ về làm Trưởng khoa Ngoại. Cùng khoảng năm đó bác sĩ Bùi Xuân Vĩnh về trường Y tá Hà Đông kiêm phụ trách phòng Khám bệnh và khoa Nhi.

Năm 1959, tỉnh đầu tư xây nhà khoa Nhi ( khoa Y học cổ truyền hiện nay) và khoa Nội cán bộ ( khoa Nội tim mạch lão học hiện nay). Quy mô bệnh viện khoảng từ 100 – 120 giường với khoảng 100 cán bộ công nhân viên.

Năm 1960 bà Ngô Thị Tám về thay bà Nhiễu vừa làm Bí thư liên chi bộ vừa làm công tác Công đoàn ( chi bộ ghép với Đảng ủy Ty Y tế). Năm 1960 – 1961 là năm bệnh viện được bổ sung nguồn nhân lực đáng kể. Bệnh viện được tiếp nhận các bác sĩ tốt nghiệp đại học Y  Hà Nội về nhận công tác.

  • Bác sĩ Nguyễn Quốc Báo về Trưởng khoa Mắt ( thay y sĩ Ứng)
  • Bác sĩ Nguyễn Thị Chinh Trưởng khoa Răng Hàm Mặt
  • Bác sĩ Nguyễn Hùng Lân Trưởng khoa Tai mũi họng ( tách từ khoa Nội, Nhi)
  • Bác sĩ Nguyễn Thị Hoài Đức – Trưởng khoa Sản
  • Bác sĩ Doãn Minh Phương phụ trách xét nghiệm
  • Bác sĩ Lài Trưởng khoa Nhi
  • Dược sĩ Lê Nguyên Công – Trưởng khoa Dược.

Năm 1962, bệnh viện được nhận viện trợ Bệnh viện dã chiến của Chính phủ Nam Tư ( viện trợ không hoàn lại). Một số trang thiết bị được nâng cấp như máy thở ô xy, máy đo thị lực, máy Javal, máy Xquang cả sóng của Đức, nửa sóng của Nga, một số kính hiển vi và các dụng cụ khác. Bệnh viện triển khai một só kỹ thuật thuộc chuyên ngành Mắt, Tai mũi họng,  Răng hàm mặt, Xquang…

Năm 1964, Đế quốc Mỹ bắt đầu đánh phá miền Bắc. Cuối năm bệnh viện xây hầm phẫu thuật ( nay là bể nước khu vườn hoa).

  1. Giai đoạn 1965 – 1974

Trong những năm tháng hào hùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, với tinh thần Tất cả vì miền Nam ruột thịt” “ Tất cả cho tiền tuyến”, vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Cán bộ, thầy thuốc của bệnh viện vẫn kiên cường bám trụ cấp cứu phẫu thuật, điều trị cho thương binh và người bệnh, vừa bảo toàn tài sản và phục vụ cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân ta bảo vệ  Tổ quốc.

Cuối năm 1965, tính Hà Đông và Sơn  Tây sáp nhập. Nhiều cán bộ và dụng cụ của Bệnh viện Sơn Tây được điều chuyển về Bệnh viện Hà Đông. Đầu năm 1969, bệnh viện mang tên Bệnh viện đa khoa Hà Tây I.

Ban lãnh đạo lúc này có sự thay đổi:

  • Bác sĩ Lê Ngọc Tân, Phó Ty Y tế kiêm bệnh viện trưởng.
  • Bà Lê Thị Phương Thảo, bẹnh viện phó Chính Trị
  • Ông Phòng Văn Yến, Bí thư liên chi ủy.
  • Bà Ngô Thị Tám, Thư ký Công đoàn.

Ở các khoa, phòng đã hình thành rõ và bổ sung một số cán bộ và lãnh đạo khoa.

  • Bác sĩ Phạm Năng an, Phó trưởng khoa Ngoại.
  • Bác sĩ Trần Nhật Hiển, Trưởng khoa Phụ sản
  • Bavs sĩ Nguyễn Đăng Tiễn, Phó trưởng khoa Răng Hàm mặt
  • Bác sĩ Đinh Quý Lan, Trưởng khoa Nội cán bộ
  • Bác sĩ Trương Thị Trì, Trưởng khoa Nội nhân dân.
  • Bác sĩ Trương Thị Nhật và sau là bác sĩ Trần Phi Sách, Trưởng khoa Nhi.
  • Bác sĩ Nguyễn Văn Ứng, Trưởng khoa khám bệnh.
  • Dược sĩ trung cấp Nguyễn Đức Thường, phó trưởng khoa Dược.
  • Bác sĩ Hoàng Văn Khiêm, Trưởng khoa Xquang.
  • Bác sĩ Phạm Quốc Cầm, Trưởng khoa xét nghiệm, giải phẫu bệnh.
  • Bác sĩ Đinh Ngọc Tuấn, Trưởng khoa Sinh hóa.

Lúc này bệnh viện có khoảng 200 giường bệnh, 150 cán bộ. Trong đó 19 bác sĩ, 3 dược sĩ đại hcoj và 24 y sĩ.

Năm 1965, bệnh viện được đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cũng như bổ sung lực lượng cán bộ, tăng giường bệnh. Cả nước ta cùng lúc thực hiện hai nhiệm vụ: bảo toàn tài sản vừa sản xuất, vừa chiến đấu.

Chi viện cho miền Nam với tinh thần “ thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”.

Chấp hành lệnh sơ tán của tỉnh, bệnh viện đã 2 lần đi sơ tán:

  • Lần thứ nhất từ năm 1965 – 1969.
  • Lần thứ hai từ năm 1971 – 1972.

Sơ tán lần thứ nhất:

Khối Nội Nhi sơ tán về làng Chuông huyện Thanh Oai. Khoa Lây ở xã Liên Châu. Khoa Ngoại sơ tán về Quảng Bị – Chương Mỹ, Thanh Lãm – Thanh Oai sau tập trung về Đồng Mai – Thanh Oai, khoa Sản ở xã Hợp Đồng – Chương Mỹ.

Sơ tán lần thứ hai ( ngày 21/4/1971)

Các khoa Mắt, Tai mũi họng, Răng hàm mật vè Phú Lãm – Thanh Oai. Khoa Lây, Nhi về Đồng Mai – Thanh Oai.

Các phòng chức năng ở thôn Cổ Bản – Đồng Mai, khối cận lâm sàng ở Thanh Lãm, khoa Ngoại, Sản ở Quảng Bị – Chương Mỹ.

Đêm, bệnh viện vẫn triển khai phẫu thuật tại bệnh viện, sau đó chuyển bệnh nhân hậu phẫu xuống hầm mổ điều trị. Đây là thời kỳ hết sức khó khăn đối với bệnh viện, cơ sở phân tán, các khoa phòng giảm 30 – 50% số giường. Một só khoa phải sáp nhập lại với nhau. Bệnh viện vẫn để lại một số khoa phòng ở lại thị xã bám trụ cùng với đội tự vệ chiến đấu. Đồng chí Đặng Văn Bưu – đại đội phó tự vệ trực tiếp chỉ huy đại hội tự vệ chiến đấu. Thời gian này, giặc Mỹ leo thang ném bom miền Bắc, bệnh viện đã cử nhiều đoàn phẫu thuật chi viện cho chiến trường Quảng Bình, Vĩnh Ninh. Nhiều đội cấp cứu và phẫu thuật tham gia cấp cứu thương binh tại các trận địa Suối Hai, Cầu Giẽ.

Cuối năm 1972 bệnh viện trở về nơi cũ, cơ sở vật chất xuống cấp. Cả bệnh viện chỉ có 2 buồn mổ, một nhà xây cấp 4, các chuyên khoa phải mổ tại khoa mình. Bệnh viện vẫn phát triển một số kỹ thuật. Trường Đại học Y Hà Nội và Trường Đại học Quân y vẫn gửi học sinh ra thực tập.

CHIA SẺ

0 BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN