Bệnh gút (GOUT) và những điều cần biết

Người viết: Tổ truyền thông

24/03/2022 08:57:43

Bệnh Gút (Gout) là một trong những bệnh hay gặp, liên quan đến xương khớp. Theo thống kê, xu hướng mắc bệnh đang ngày càng gia tăng và trẻ hóa. Nhằm giúp độc giả chủ động hơn trong việc bảo vệ sức khỏe, bài viết này sẽ đề cập đến một số thông tin liên quan đến bệnh gút như: nguyên nhân, biểu hiện, cách điều trị và phòng bệnh.

 

Bệnh Gút là gì?

Bệnh Gút (gout) hay còn gọi thống phong.

Nguyên nhân gây ra bệnh là do sự rối loạn chuyển hóa acid uric trong cơ thể, Ở Việt Nam, do lạm dụng bia rượu quá mức và chế độ ăn uống thừa chất đạm quá nhiều dẫn đến rối loạn chuyển hóa acid uric, gây ra bệnh Gút.  Acid uric là nhân purin có trong DNA và RNA bị phân hủy sinh lý. Sau khi hình thành, acid uric đi vào máu rồi đến thận sẽ được lọc bỏ, đào thải ra khỏi cơ thể. Khi lượng acid uric trong máu tăng cao, thận không kịp lọc để đào thải dẫn đến tích tụ thành tinh thể urat trong các mô, nhất là trong các khớp xương. Tích lũy càng nhiều càng khiến các khớp xương viêm nhiễm, đau nhức khó chịu, từ đó gây lên bệnh Gút.

Người nào dễ bị bệnh Gút

Tỷ lệ mắc bệnh gút là khoảng 1/200 người trưởng thành. Bệnh có thể ảnh hưởng đến mọi người, không phân biệt tuổi tác và giới tính. Tuy nhiên, nam giới từ 30–50 tuổi và phụ nữ trong giai đoạn sau mãn kinh thường mắc bệnh này nhiều hơn. Bệnh ít khi xảy ra ở người trẻ và trẻ em.

Các yếu tố nguy cơ gây bệnh Gút bao gồm:

  • Chế độ ăn quá nhiều đạm và hải sản
  • Tuổi tác và giới tính: bệnh xuất hiện nhiều hơn ở nam giới và người lớn tuổi
  • Uống nhiều rượu bia trong thời gian dài
  • Béo phì
  • Gia đình có người từng bị gút
  • Mới bị chấn thương hoặc mới phẫu thuật
  • Tăng cân quá mức
  • Tăng huyết áp
  • Chức năng thận bất thường
  • Sử dụng một số loại thuốc có thể là nguyên nhân làm tích tụ axit uric trong cơ thể như: Aspirin, Thuốc lợi tiểu, Thuốc hóa trị liệu, Các loại thuốc có thể làm suy giảm hệ miễn dịch như cyclosporine
  • Từng mắc các bệnh như đái tháo đường, suy giảm chức năng thận, bệnh tim, xơ vữa động mạch, tắc nghẽn mạch máu, bệnh truyền nhiễm, tăng huyết áp
  • Mất nước

Biểu hiện của bệnh Gút

Bệnh gút đặc trưng bởi những đợt viêm khớp cấp tái phát, người bệnh thường xuyên bị đau đớn đột ngột giữa đêm và sưng đỏ các khớp khi đợt viêm cấp bùng phát, đặc biệt là các khớp ở ngón chân cái, nhưng cũng có thể ảnh hưởng tới các khớp khác ở chân (như đầu gối, mắt cá chân, bàn chân) và ít gặp hơn ở khớp tay (bàn tay, cổ tay, khuỷu tay), cả cột sống cũng có thể bị ảnh hưởng.

Hầu hết các biểu hiện của bệnh gút thường kéo dài vài giờ trong 1–2 ngày. Tuy nhiên, đối với trường hợp nặng, cơn đau có thể xảy ra trong vòng vài tuần. Nếu người bị bệnh gút không dùng thuốc trị gút thường xuyên, các triệu chứng của bệnh sẽ nghiêm trọng hơn.

U cục tophi: bệnh này đặc trưng bởi sự tích tụ tinh thể dưới da. Thông thường, các khối này sẽ xuất hiện xung quanh ngón chân, đầu gối, ngón tay và tai. Nếu không được xử lý đúng cách thì u tophi sẽ ngày càng lớn hơn.

Tổn thương khớp: nếu người bệnh không dùng thuốc trị gút, khớp có thể bị tổn thương vĩnh viễn. Tình trạng này sẽ làm tăng nguy cơ tổn thương xương và các khớp khác.

Tổn thương các cơ quan khác: nếu không điều trị gút đúng cách, các tinh thể acid uric không chỉ tích tụ quanh khớp mà còn tích tụ trong nội tạng như thận (gây ra sỏi thận, viêm thận kẽ, suy thận): tim (gây viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim).

Các phương pháp điều trị  Gút

Điều trị nội khoa: Là phương pháp quan trọng, cần thiết để điều trị dứt điểm bệnh. ở các mức độ bệnh khác nhau bác sĩ sẽ kê đơn thuốc phù hợp, bệnh nhân cần uống thuốc đều đặn, đúng giờ, đúng liều. Đơn thuốc thông thường điều trị bệnh gồm: thuốc giảm đau, thuốc chống viêm, thuốc ức chế sản sinh acid uric và thuốc tăng đào thải acid... Các thuốc hạ acid uric máu có thể phải dùng suốt đời.

Điều trị ngoại khoa: Phẫu thuật cắt bỏ nốt tophi được chỉ định trong trường hợp:

  • Gout kèm biến chứng loét
  • Bội nhiễm hạt tophi
  • Hạt u tophi kích thước lớn, ảnh hưởng đến vận động hoặc vì lý do thẩm m

Phòng ngừa bệnh Gút:Thay đổi lối sống  giúp phòng ngừa và điều trị hiệu quả  bệnh Gút:

Nghe theo hướng dẫn của bác sĩ, không được tự ý uống thuốc không được chỉ định hoặc bỏ thuốc được kê đơn.

Tái khám đúng lịch hẹn để được theo dõi diễn tiến bệnh cũng như tình trạng sức khỏe.

Điều trị tốt các bệnh lý mạn tính có thể  gây bệnh gút thứ phát như suy thận, các bệnh lý chuyển hóa, đái tháo đường, tăng huyết áp...

Tập thể dục thường xuyên:  ít nhất 30 phút mỗi ngày, 5 ngày mỗi tuần; Duy trì cân nặng hợp lý

Đặc biệt cần duy trì chế độ ăn uống hợp lý:

  • Tránh ăn nội tạng động vật, nhất là gan...
  • Hạn chế ăn hải sản và các loại thịt đỏ (thịt bò, thịt chó...)
  • Ăn ít chất béo bão hòa như bơ, mỡ động vật, dầu dừa, dầu lạc...
  • Giảm sử dụng các thức uống có cồn, đặc biệt là bia rượu
  • Hạn chế uống cà phê, trà, nước uống có ga
Các loại thực phẩm bệnh nhân Gút nên hạn chế
  • Nên ăn nhiều thực phẩm giàu chất xơ như dưa leo, rau xanh, cà chua, ...
  • Thay thế dùng đường tinh luyện bằng đường tự nhiên trong rau củ và ngũ cốc
  • Nên dùng các sản phẩm chứa ít chất béo
  • Uống nhiều nước: uống từ 2,5–3 lít nước mỗi ngày
Các loại thực phẩm bệnh nhân Gút nên ăn

Có thể nói bệnh Gút là bệnh rối loạn chuyển hóa liên quan tới xương khớp khá nguy hiểm không nên chủ quan. Bệnh nhân bị bệnh Gút cần đến khám tại các phòng khám Nội của khoa Khám bệnh BVĐK Hà Đông để được các bác sĩ tư vấn và điều trị kip thời.

DANH MỤC TIN
Từ 1/1/2021: "Chỉ thông tuyến tỉnh với người có thẻ BHYT điều trị nội trú…"
Thứ Hai 28/12/2020 08:24:49
"Nhiều người đang hiểu thông tuyến tỉnh là tất cả người bệnh được quỹ BHYT chi trả. Tôi xin khẳng định, quy định này chỉ dành cho người đến khám và được bác sĩ chỉ định nhập viện điều trị nội trú…". Từ 1/1/2021, thông tuyến tỉnh điều trị nội trú với người có thẻ BHYT. (Ảnh: Đỗ Linh). Ông Lê Văn Phúc - Trưởng Ban thực hiện chính sách bảo hiểm y tế (Bảo hiểm xã hội VN) - trao đổi thêm thông tin liên quan tới quy định thông tuyến tỉnh khám chữa bệnh nội trú theo thẻ BHYT, có hiệu lực từ ngày 1/1/2021.  Người có thẻ BHYT hưởng lợi gì? Theo ông Lê Văn Phúc, từ ngày 1/1/2021, việc mở thêm quy định thông tuyến tỉnh điều trị nội trú giúp cho người có thẻ BHYT chủ động lựa chọn, tiếp cận dịch vụ y tế phù hợp với tình trạng bệnh, đồng thời cũng là cơ hội để các tuyến y tế nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Những trường hợp người có thẻ BHYT phát sinh nhu cầu khám, điều trị tại bệnh viện tuyến tỉnh hoặc đang ở tỉnh xa nếu bị bệnh thì có thể đến các bệnh viện tuyến tỉnh và được BHYT chi trả 100% nếu điều trị nội trú, không phải trở về địa phương để khám chữa bệnh theo tuyến như trước kia.  Ông Lê Văn Phúc - Trưởng ban thực hiện chính sách BHYT(BHXH VN). (Ảnh: TL) "Do phạm vi lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh càng rộng, người bệnh có nhiều sự lựa chọn hơn và thúc đẩy các cơ sở y tế từ tuyến cơ sở đến tuyến tỉnh nâng cao chất lượng khám chữa bệnh để thu hút, tạo sự tin tưởng cho người bệnh" - ông Lê Văn Phúc giải thích thêm. Trong đó, các nhóm đối tượng được BHYT chi trả 100% chi phí khi đi khám chữa bệnh đúng tuyến, gồm: Người có công với cách mạng, người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng, người thuộc hộ gia đình nghèo, người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo; trẻ em dưới 6 tuổi… Trước đó, Luật BHYT năm 2014 đã quy định quy định thông tuyến huyện cho hoạt động khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT từ ngày 1/1/2016. Với quy định tại Khoản 6 Điều 22 Luật BHYT, từ ngày 1/1/2021, người tham gia BHYT khi đi khám chữa bệnh không đúng tuyến tại cơ sở khám chữa bệnh tuyến tỉnh sẽ được quỹ BHYT trả chi phí điều trị nội trú theo phạm vi quyền lợi và mức hưởng như trường hợp khám chữa bệnh đúng tuyến. Đại diện Ban thực hiện chính sách BHYT cho biết thêm: "Theo quy định hiện hành, Quỹ BHYT chỉ thanh toán 60% chi phí điều trị nội trú khi vượt tuyến. Sau ngày 1/1/2021, tùy từng nhóm đối tượng tham gia BHYT theo Luật BHYT quy định, người bệnh được thanh toán chi phí khám chữa bệnh với các mức 100%, 95% hoặc 80%".  "Xin được lưu ý, với quy định thông tuyến tỉnh từ năm 2021, Quỹ BHYT chỉ chi trả 100% chi phí theo phạm vi quyền lợi và mức hưởng cho các trường hợp người bệnh tự đi khám tại bệnh viện tuyến tỉnh và có chỉ định điều trị nội trú của bác sĩ. Trường hợp người dân tự đi khám ngoại trú, sẽ phải tự chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh" - Ông Lê Văn Phúc cho. Đồng thời, quy định thông tuyến tỉnh được áp dụng với tất cả các bệnh viện tuyến tỉnh và một số bệnh viện ngành. Các tuyến trung ương như bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức, Chợ Rẫy, Thống Nhất, Trung ương 108 không áp dụng. Áp lực cho quỹ BHYT và cơ sở khám chữa bệnh Dự báo của Ban thực hiện chính sách BHYT, sau khi thông tuyến tỉnh, chi phí khám chữa bệnh sẽ gia tăng lên con số không nhỏ. "Năm 2020, quỹ BHYT chi trả 60% chi phí điều trị nội trú cho hơn 1 triệu bệnh nhân vượt tuyến với số tiền khoảng 1.250 tỉ đồng. Nếu áp số lượng bệnh nhân trên với năm 2021, trong điều kiện trả toàn bộ chi phí điều trị nội trú, chi phí BHYT dự kiến tăng ít nhất 2.000 tỉ đồng…" - ông Lê Văn Phúc ước tính. Người dân tới khám chữa bệnh theo thẻ BHYT (Ảnh: TL) Đây cũng là thách thức lớn đối với việc quản lý quỹ BHYT. Bởi theo ông Lê Văn Phúc, quỹ dự phòng BHYT chỉ có thể đáp ứng chi trả đến hết năm 2021.  Vậy cần hạn chế những tác động không mong muốn ra sao với quỹ BHYT cũng như hạn chế tình trạng "dồn ứ" cho nhiều bệnh viện tuyến tỉnh? Theo ông Lê Văn Phúc, người dân cần hiểu rõ quy định của việc thông tuyến tỉnh chỉ dành cho điều trị nội trú. Theo thống kê của BHXH VN, tới cuối tháng 12/2020, cả nước có 88 triệu người tham gia BHYT, chiếm 90,85% dân số, vượt 0,15% chỉ tiêu Nghị quyết số 01 của Chính phủ, tăng 25,6% so với năm 2015. Trong khi đó, hệ thống y tế của Việt Nam đã được vận hành theo phân cấp: Trường hợp bệnh nhẹ, người bệnh sẽ được chuyển đến cơ sở y tế tuyến xã, huyện. Trường hợp mắc bệnh nặng hơn thì mới lên tuyến tỉnh hoặc Trung ương để điều trị. Những năm qua ngành y tế đã chú trọng nâng cấp hệ thống y tế cơ sở, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và năng lực chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. "Việc thông tuyến tỉnh đối với người bệnh nội trú là đã "khoanh vùng" những người bệnh nặng, phải điều trị dài ngày, chuyên sâu, cần chăm sóc nhiều hơn…" - ông Lê Văn Phúc cho biết. Liên quan tới hạn chế tình trạng "lạm dụng" chỉ định điều trị nội trú của bác sĩ, ông Lê Văn Phúc cho biết nếu không giám sát hiệu quả, các bệnh viện sẽ đối mặt với tình trạng quá tải khi bệnh nhân điều trị nội trú gia tăng trong khi các nguồn lực còn hạn chế. "Có thể xảy ra xu hướng chỉ định điều trị nội trú kể cả với bệnh nhân bệnh nhẹ, chưa thực sự cần thiết điều trị nội trú cũng nhập viện, dễ dẫn đến quá tải BV. Chưa kể bệnh nhân nội trú kèm theo vài người thăm nom, chăm sóc gây khó khăn cho sinh hoạt của bệnh viện…" - ông Lê Văn Phúc cho biết. Theo ông Lê Văn Phúc, Bộ Y tế đang hoàn tất quy định về chỉ định nhập viện điều trị nội trú để tránh tình trạng lạm dụng điều trị nội trú khi không cần thiết. Đồng thời, Bộ cũng yêu cầu các giám đốc sở Y tế các tỉnh, thành phố chỉ đạo các cơ sở khám chữa bệnh tuyến tỉnh tăng cường công tác quản lý chất lượng dịch vụ theo đúng hướng dẫn tại Thông tư số 19/2013/TT-BYT về thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện… Nguồn: dantri.com.vn