Phẫu thuật nội soi khớp vai

Người viết: Tổ truyền thông

24/03/2022 10:22:28

Phẫu thuật nội soi khớp vai là thủ thuật được các bác sĩ chuyên khoa chấn thương chỉnh hình thực hiện để điều trị các tổn thương bên trong khớp vai. Phương pháp này có nhiều ưu điểm về thẩm mỹ, ít chảy máu, giảm đau, rút ngắn thời gian bệnh nhân nằm viện chỉ còn khoảng 1 - 2 ngày.

Tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông, trường hợp BN nam 30T, bị trật khớp vai phải tái lại nhiều lần, được chẩn đóan " Trật khớp vai phải tái diễn" Bệnh nhân đã được phẫu thuật nội soi và sau 3 ngày đã có thể xuất viện và tập phục hồi chức năng tại nhà dưới sự hướng dẫn của các bác sỹ chuyên ngành.

GIẢI PHẪU HỌC

Khớp vai có cấu trúc phức tạp và có khả năng vận động nhiều hơn bất kỳ loại khớp nào khác trong cơ thể. Cấu tạo của khớp vai gồm ba xương: xương cánh tay, xương bả vai, và xương đòn.

KHI NÀO CẦN THỰC HIỆN NỘI SOI KHỚP VAI?

Bác sĩ có thể đề nghị nội soi khớp vai khi bệnh nhân bị đau khớp vai và tình trạng đau này  không thuyên giảm khi được điều trị bảo tồn bao gồm nghỉ ngơi, trị liệu bằng tay như tập vật lý trị liệu hoặc áp dụng thuật nắn xương, thuật châm cứu và sử dụng thuốc uống hoặc thuốc tiêm để có thể giảm viêm. Viêm là một trong các phản ứng thông thường của cơ thể với tổn thương hay bệnh tật. Khi khớp vai bị bệnh hay tổn thương, tình trạng viêm sẽ gây ra sưng, đau và cứng khớp.

Nguyên nhân của hầu hết các vấn đề ở vai là do tổn thương, vận động quá mức hay do tuổi tác. Nội soi khớp vai có thể giúp giảm các triệu chứng đau vai do tổn thương gân chóp xoay, sụn viền, sụn khớp, và các mô mềm khác quanh khớp vai.

Các thủ thuật nội soi khớp vai thường gặp, bao gồm:

  • Chỉnh sửa chóp xoay
  • Cắt bỏ gai xương
  • Cắt bỏ hay chỉnh sửa sụn viền
  • Chỉnh sửa dây chằng
  • Cắt bỏ mô bị viêm hay sụn bị bong ra
  • Chỉnh sửa trật khớp vai tái phát.

Các thủ thuật ít gặp hơn như giải ép dây thần kinh, chỉnh sửa xương gãy, cắt bỏ u nang cũng có thể được thực hiện bằng phương pháp nội soi khớp vai.Một số phẫu thuật như thay khớp vai, vẫn cần phải mổ hở với vết rạch lớn hơn.

Hình ảnh được chụp qua ống nội soi khớp cho thấy màng hoạt dịch ở khớp vai bình thường.

(Trái) và màng hoạt dịch bị viêm do tổn thương bởi tình trạng cứng vai (Phải).

KẾ HOẠCH PHẪU THUẬT

Chuẩn bị bệnh nhân, hồ sơ bệnh án

Giải thích với bệnh nhân các nguy cơ, cho bệnh nhân ký giấy phẫu thuật thủ thuật

Phương pháp vô cảm: tê đám rối hoặc gây mê nội khí quản

Thời gian phẫu thuật: khoảng 1h, tuy nhiên thời gian có thể tùy từng trường hợp tổn thương của từng ca bệnh

QUY TRÌNH THỰC HIỆN

Đầu tiên bác sĩ phẫu thuật sẽ tiêm dung dịch vào khớp vai để bơm căng khớp. Điều này giúp bác sĩ nhìn thấy rõ hơn tất cả các cấu trúc của khớp vai qua ống nội soi. Sau đó, bác sĩ sẽ rạch một lỗ nhỏ trên vai bệnh nhân (kích cỡ bằng khuy áo) để đưa ống nội soi vào. Dung dịch sẽ chảy qua ống nội soi để giữ cho hình ảnh rõ nét và kiểm soát tình trạng xuất huyết. Các hình ảnh từ ống nội soi được chiếu trên màn hình giúp cho bác sĩ phẫu thuật nhìn thấy bên trong vai bệnh nhân cùng với các tổn thương.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Các bác sĩ khoa Chấn thương Chỉnh hình thực hiện phẫu thuật nội soi khớp vai cho bệnh nhân

(Trái) Trong quá trình nội soi, bác sĩ phẫu thuật đưa ống nội soi và những dụng cụ phẫu thuật rất nhỏ vào khớp vai của bệnh nhân. (Phải) Hình ảnh nội soi bên trong khớp vai.

  Khi đã xác định rõ vấn đề, bác sĩ phẫu thuật sẽ đưa những dụng cụ phẫu thuật rất nhỏ vào qua các vết rạch riêng biệt để chỉnh sửa khớp vai. Những dụng cụ chuyên biệt được sử dụng để thực hiện các công việc như nạo, cắt, kẹp,  khâu xuyên, và thắt gút. Trong nhiều trường hợp, những dụng cụ đặc biệt được sử dụng để khâu neo vào xương.

(Trái) Hình ảnh nội soi của khớp vai khỏe mạnh. (Giữa) hình ảnh của chóp xoay bị rách, một kẽ hở lớn có thể nhìn thấy giữa mép gân chóp xoay và chỏm xương cánh tay. (Phải) Sợi gân đã được khâu nối lại vào chỏm xương cánh tay.

(Trái) Hình ảnh nội soi của khớp vai khỏe mạnh. (Giữa) hình ảnh của chóp xoay bị rách, một kẽ hở lớn có thể nhìn thấy giữa mép gân chóp xoay và chỏm xương cánh tay. (Phải) Sợi gân đã được khâu nối lại vào chỏm xương cánh tay.

HỒI PHỤC

Sau phẫu thuật:

Sau phẫu thuật bệnh nhân được đưa về phòng hồi tỉnh theo dõi. Sau đó được chuyển về khoa CTCH. Thời gian nằm viên của bệnh nhân khoảng hai đến ba ngày sau đó được hướng dẫn tập phục hồi chức năng và xuất viện

Tại nhà

Mặc dù nội soi khớp vai có thời gian hồi phục nhanh hơn so với mổ hở, bệnh nhân vẫn có thể cần đến vài tuần hay vài tháng để khớp vai hồi phục hoàn toàn.

Bệnh nhân có thể sẽ bị đau và khó chịu trong ít nhất 1 tuần sau phẫu thuật. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân trải qua một cuộc phẫu thuật lớn hơn, có thể mất vài tuần trước khi cơn đau giảm xuống. Chườm đá sẽ giúp giảm đau và sưng. Bác sĩ có thể chỉ định thuốc giảm đau nếu cần.

Bệnh nhân thường sẽ cần băng đeo hoặc một vật liệu cố định đặc biệt để bảo vệ khớp vai. Bác sĩ phẫu thuật sẽ trao đổi với bệnh nhân về thời gian cần sử dụng băng đeo này.

Phục hồi chức năng

Sau phẫu thuật khớp vai, phục hồi chức năng đóng một vai trò quan trọng giúp bệnh nhân trở lại với các hoạt động hàng ngày. Tùy thuộc vào trường hợp phẫu thuật cụ thể,  bác sĩ phẫu thuật sẽ đề nghị bệnh nhân bắt đầu chương trình tập vật lý trị liệu sớm nhất có thể. Chuyên viên vật lý trị liệu sẽ cung cấp các hướng dẫn về điều trị đau và sưng. Đồng thời sẽ cung cấp một chương trình tập luyện để giúp bệnh nhân phục hồi sức mạnh và khả năng vận động của khớp vai. Ngoài ra, bệnh nhân còn được hướng dẫn để thực hiện các hoạt động hàng ngày như mặc quần áo, làm việc, lái xe, v.v.

BIẾN CHỨNG

Hầu hết bệnh nhân không gặp biến chứng sau khi nội soi khớp vai.Tuy nhiên, cũng như các cuộc phẫu thuật khác, phương pháp này vẫn có một vài nguy cơ.Các nguy cơ này thường nhẹ và có thể điều trị được.Các nguy cơ có khả năng xảy ra sau khi nội soi khớp vai bao gồm nhiễm trùng, xuất huyết nặng, hình thành máu đông và tổn thương mạch máu hay dây thần kinh.

Bác sĩ phẫu thuật sẽ trao đổi với bệnh nhân về những biến chứng có thể xảy ra trước khi phẫu thuật.

KẾT QUẢ

Vì tình trạng sức khỏe của các bệnh nhân khác nhau nên thời gian hồi phục hoàn toàn ở mỗi bệnh nhân cũng sẽ khác nhau.

Nếu chỉ chỉnh sửa đơn giản ở khớp vai, bệnh nhân có thể không cần sử dụng băng đeo và có thể hồi phục lại sau một thời gian ngắn phục hồi chức năng . Bệnh nhân có thể đi làm hay đi học trở lại trong vòng vài ngày sau phẫu thuật.

Thời gian hồi phục sẽ lâu hơn nếu phẫu thuật phức tạp hơn.Mặc dù những vết rạch trong nội soi khớp vai rất nhỏ, nhưng các tổn thương lớn bên trong khớp vai vẫn có thể được chỉnh sửa bằng thủ thuật này.Thời gian hồi phục hoàn toàn có khi mất vài tháng.Mặc dù quá trình này có thể chậm, nhưng việc tuân thủ các hướng dẫn và kế hoạch phục hồi chức năng của bác sĩ phẫu thuật là điều rất quan trọng để phẫu thuật thành công.

Hình ảnh phục hồi khớp vai trong quá trình điều trị

 

DANH MỤC TIN
Từ 1/1/2021: "Chỉ thông tuyến tỉnh với người có thẻ BHYT điều trị nội trú…"
Thứ Hai 28/12/2020 08:24:49
"Nhiều người đang hiểu thông tuyến tỉnh là tất cả người bệnh được quỹ BHYT chi trả. Tôi xin khẳng định, quy định này chỉ dành cho người đến khám và được bác sĩ chỉ định nhập viện điều trị nội trú…". Từ 1/1/2021, thông tuyến tỉnh điều trị nội trú với người có thẻ BHYT. (Ảnh: Đỗ Linh). Ông Lê Văn Phúc - Trưởng Ban thực hiện chính sách bảo hiểm y tế (Bảo hiểm xã hội VN) - trao đổi thêm thông tin liên quan tới quy định thông tuyến tỉnh khám chữa bệnh nội trú theo thẻ BHYT, có hiệu lực từ ngày 1/1/2021.  Người có thẻ BHYT hưởng lợi gì? Theo ông Lê Văn Phúc, từ ngày 1/1/2021, việc mở thêm quy định thông tuyến tỉnh điều trị nội trú giúp cho người có thẻ BHYT chủ động lựa chọn, tiếp cận dịch vụ y tế phù hợp với tình trạng bệnh, đồng thời cũng là cơ hội để các tuyến y tế nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Những trường hợp người có thẻ BHYT phát sinh nhu cầu khám, điều trị tại bệnh viện tuyến tỉnh hoặc đang ở tỉnh xa nếu bị bệnh thì có thể đến các bệnh viện tuyến tỉnh và được BHYT chi trả 100% nếu điều trị nội trú, không phải trở về địa phương để khám chữa bệnh theo tuyến như trước kia.  Ông Lê Văn Phúc - Trưởng ban thực hiện chính sách BHYT(BHXH VN). (Ảnh: TL) "Do phạm vi lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh càng rộng, người bệnh có nhiều sự lựa chọn hơn và thúc đẩy các cơ sở y tế từ tuyến cơ sở đến tuyến tỉnh nâng cao chất lượng khám chữa bệnh để thu hút, tạo sự tin tưởng cho người bệnh" - ông Lê Văn Phúc giải thích thêm. Trong đó, các nhóm đối tượng được BHYT chi trả 100% chi phí khi đi khám chữa bệnh đúng tuyến, gồm: Người có công với cách mạng, người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng, người thuộc hộ gia đình nghèo, người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo; trẻ em dưới 6 tuổi… Trước đó, Luật BHYT năm 2014 đã quy định quy định thông tuyến huyện cho hoạt động khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT từ ngày 1/1/2016. Với quy định tại Khoản 6 Điều 22 Luật BHYT, từ ngày 1/1/2021, người tham gia BHYT khi đi khám chữa bệnh không đúng tuyến tại cơ sở khám chữa bệnh tuyến tỉnh sẽ được quỹ BHYT trả chi phí điều trị nội trú theo phạm vi quyền lợi và mức hưởng như trường hợp khám chữa bệnh đúng tuyến. Đại diện Ban thực hiện chính sách BHYT cho biết thêm: "Theo quy định hiện hành, Quỹ BHYT chỉ thanh toán 60% chi phí điều trị nội trú khi vượt tuyến. Sau ngày 1/1/2021, tùy từng nhóm đối tượng tham gia BHYT theo Luật BHYT quy định, người bệnh được thanh toán chi phí khám chữa bệnh với các mức 100%, 95% hoặc 80%".  "Xin được lưu ý, với quy định thông tuyến tỉnh từ năm 2021, Quỹ BHYT chỉ chi trả 100% chi phí theo phạm vi quyền lợi và mức hưởng cho các trường hợp người bệnh tự đi khám tại bệnh viện tuyến tỉnh và có chỉ định điều trị nội trú của bác sĩ. Trường hợp người dân tự đi khám ngoại trú, sẽ phải tự chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh" - Ông Lê Văn Phúc cho. Đồng thời, quy định thông tuyến tỉnh được áp dụng với tất cả các bệnh viện tuyến tỉnh và một số bệnh viện ngành. Các tuyến trung ương như bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức, Chợ Rẫy, Thống Nhất, Trung ương 108 không áp dụng. Áp lực cho quỹ BHYT và cơ sở khám chữa bệnh Dự báo của Ban thực hiện chính sách BHYT, sau khi thông tuyến tỉnh, chi phí khám chữa bệnh sẽ gia tăng lên con số không nhỏ. "Năm 2020, quỹ BHYT chi trả 60% chi phí điều trị nội trú cho hơn 1 triệu bệnh nhân vượt tuyến với số tiền khoảng 1.250 tỉ đồng. Nếu áp số lượng bệnh nhân trên với năm 2021, trong điều kiện trả toàn bộ chi phí điều trị nội trú, chi phí BHYT dự kiến tăng ít nhất 2.000 tỉ đồng…" - ông Lê Văn Phúc ước tính. Người dân tới khám chữa bệnh theo thẻ BHYT (Ảnh: TL) Đây cũng là thách thức lớn đối với việc quản lý quỹ BHYT. Bởi theo ông Lê Văn Phúc, quỹ dự phòng BHYT chỉ có thể đáp ứng chi trả đến hết năm 2021.  Vậy cần hạn chế những tác động không mong muốn ra sao với quỹ BHYT cũng như hạn chế tình trạng "dồn ứ" cho nhiều bệnh viện tuyến tỉnh? Theo ông Lê Văn Phúc, người dân cần hiểu rõ quy định của việc thông tuyến tỉnh chỉ dành cho điều trị nội trú. Theo thống kê của BHXH VN, tới cuối tháng 12/2020, cả nước có 88 triệu người tham gia BHYT, chiếm 90,85% dân số, vượt 0,15% chỉ tiêu Nghị quyết số 01 của Chính phủ, tăng 25,6% so với năm 2015. Trong khi đó, hệ thống y tế của Việt Nam đã được vận hành theo phân cấp: Trường hợp bệnh nhẹ, người bệnh sẽ được chuyển đến cơ sở y tế tuyến xã, huyện. Trường hợp mắc bệnh nặng hơn thì mới lên tuyến tỉnh hoặc Trung ương để điều trị. Những năm qua ngành y tế đã chú trọng nâng cấp hệ thống y tế cơ sở, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và năng lực chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. "Việc thông tuyến tỉnh đối với người bệnh nội trú là đã "khoanh vùng" những người bệnh nặng, phải điều trị dài ngày, chuyên sâu, cần chăm sóc nhiều hơn…" - ông Lê Văn Phúc cho biết. Liên quan tới hạn chế tình trạng "lạm dụng" chỉ định điều trị nội trú của bác sĩ, ông Lê Văn Phúc cho biết nếu không giám sát hiệu quả, các bệnh viện sẽ đối mặt với tình trạng quá tải khi bệnh nhân điều trị nội trú gia tăng trong khi các nguồn lực còn hạn chế. "Có thể xảy ra xu hướng chỉ định điều trị nội trú kể cả với bệnh nhân bệnh nhẹ, chưa thực sự cần thiết điều trị nội trú cũng nhập viện, dễ dẫn đến quá tải BV. Chưa kể bệnh nhân nội trú kèm theo vài người thăm nom, chăm sóc gây khó khăn cho sinh hoạt của bệnh viện…" - ông Lê Văn Phúc cho biết. Theo ông Lê Văn Phúc, Bộ Y tế đang hoàn tất quy định về chỉ định nhập viện điều trị nội trú để tránh tình trạng lạm dụng điều trị nội trú khi không cần thiết. Đồng thời, Bộ cũng yêu cầu các giám đốc sở Y tế các tỉnh, thành phố chỉ đạo các cơ sở khám chữa bệnh tuyến tỉnh tăng cường công tác quản lý chất lượng dịch vụ theo đúng hướng dẫn tại Thông tư số 19/2013/TT-BYT về thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện… Nguồn: dantri.com.vn