Bệnh viện Đa khoa Hà Đông có 3 báo cáo khoa học chất lượng tại Hội nghị Chấn thương chỉnh hình Việt Nam lần thứ 23 năm 2026
Bệnh viện Đa khoa Hà Đông có 3 báo cáo khoa học chất lượng tại Hội nghị Chấn thương chỉnh hình Việt Nam lần thứ 23 năm 2026
Hội nghị khoa học Chấn thương chỉnh hình toàn quốc lần thứ 23 với chủ đề “Ứng dụng khoa học công nghệ trong chấn thương chỉnh hình” diễn ra tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Hà Nội, quy tụ đông đảo chuyên gia, phẫu thuật viên chấn thương chỉnh hình trong nước và quốc tế. Tại hội nghị, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông có 3 báo cáo khoa học, tập trung vào những kỹ thuật đang được triển khai trong điều trị các bệnh lý, chấn thương cơ xương khớp.
Hội nghị diễn ra trong hai ngày 2 và 3/10, với tổng cộng 199 báo cáo khoa học được trình bày. Khoảng 20% số báo cáo đến từ các chuyên gia quốc tế, trong đó có nhiều báo cáo viên đến từ các quốc gia có nền y học phát triển như Pháp, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đức...
Sự tham dự của lãnh đạo Hội Chấn thương Chỉnh hình và các chuyên gia đến từ Pháp, Thái Lan, Ấn Độ cùng nhiều quốc gia khác cho thấy xu hướng tăng cường trao đổi chuyên môn, cập nhật kỹ thuật và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chấn thương chỉnh hình.
Ngay trong phiên khai mạc, các chuyên gia đã giới thiệu và thực hiện mổ thị phạm một số kỹ thuật đáng chú ý như phẫu thuật thay khớp gối có robot hỗ trợ; phẫu thuật xâm lấn tối thiểu kết hợp bơm xi măng sinh học trong cố định cột sống ngực - thắt lưng; sử dụng chế phẩm sinh học trong phẫu thuật tái tạo tổn thương rách rộng chóp xoay khớp vai.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Khánh, Chủ tịch Hội Chấn thương Chỉnh hình Việt Nam, cùng với sự phát triển về quy mô, chất lượng chuyên môn luôn là mục tiêu được Hội Chấn thương Chỉnh hình Việt Nam đặt lên hàng đầu. Những năm gần đây, lĩnh vực chấn thương chỉnh hình ngày càng có vai trò quan trọng trong nền y học Việt Nam và mở rộng giao lưu chuyên môn với cộng đồng chấn thương chỉnh hình quốc tế.
Ba nghiên cứu từ Bệnh viện Đa khoa Hà Đông
Tại hội nghị, 3 báo cáo khoa học của Bệnh viện Đa khoa Hà Đông do TS.BS Nguyễn Trọng Nghĩa đại diện nhóm báo cáo đã thu hút sự quan tâm của các đại biểu. Các nghiên cứu tập trung vào những vấn đề thực tiễn trong phẫu thuật chấn thương chỉnh hình, từ tái tạo dây chằng, đánh giá hình thái gãy xương bằng hình ảnh học đến lựa chọn phương pháp cố định trong điều trị gãy xương đòn.
Đáng chú ý, nghiên cứu “Kết quả nội soi tái tạo dây chằng chéo trước bằng gân hamstring tự thân theo kỹ thuật tất cả bên trong” do ThS.BS Nguyễn Hữu Cử trình bày, đánh giá kết quả bước đầu của kỹ thuật tái tạo dây chằng chéo trước (DCCT) sử dụng ổ xương đùi và ổ xương chày cùng phương pháp cố định treo hai đầu.

Hình ảnh ThS.BS Nguyễn Hữu Cử trình bày tại hội nghị khoa học chấn thương chỉnh hình Việt nam lần thứ 23
Nghiên cứu được thực hiện trên 53 người bệnh từ 18-50 tuổi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông trong thời gian từ tháng 1/2024 đến tháng 6/2025. Tuổi trung bình của người bệnh là 34,42 tuổi, trong đó chấn thương thể thao chiếm 64,2%.
Trước phẫu thuật, điểm Lysholm trung bình đạt 50,97 điểm; nghiệm pháp Lachman độ II chiếm 56,6%. Thời gian phẫu thuật trung bình là 57,23 phút. Mảnh ghép có chiều dài trung bình 62,3 mm và đường kính 8,53 mm.
Sau 6 tháng theo dõi, điểm Lysholm trung bình tăng lên 91,3 điểm. Có 50/53 người bệnh, tương đương 94,3%, đạt kết quả tốt hoặc rất tốt. Nghiệm pháp Lachman âm tính ở 45/53 trường hợp, chiếm 84,9%; 8 trường hợp còn lại ở độ I.
Theo nhóm nghiên cứu, kết quả bước đầu cho thấy tái tạo DCCT bằng gân hamstring tự thân theo kỹ thuật tất cả bên trong cho kết quả khả quan về chức năng và độ vững khớp gối sau 6 tháng. Tuy nhiên, các tác giả cũng nhấn mạnh cần tiếp tục nghiên cứu với nhóm so sánh, thời gian theo dõi dài hơn và các phương pháp đo độ lỏng khớp bằng dụng cụ để đánh giá hiệu quả lâu dài.
Một nội dung khác được quan tâm là báo cáo “Gãy mắt cá sau qua đánh giá CT-scan: Phân tích hình thái và giá trị chẩn đoán” do ThS.BS Nguyễn Văn Hùng trình bày.
Gãy mắt cá sau là tổn thương có thể gây mất vững khớp cổ chân và ảnh hưởng đến chức năng vận động. Trong khi X-quang quy ước có thể gặp hạn chế trong việc đánh giá đầy đủ hình thái mảnh gãy, CT-scan cho phép khảo sát chi tiết hơn về diện khớp, mức độ di lệch và đặc điểm tổn thương.

Hình ảnh ThS.BS Nguyễn Văn Hùng trình bày tại hội nghị khoa học chấn thương chỉnh hình Việt nam lần thứ 23
Nghiên cứu hồi cứu có phân tích trên 35 bệnh nhân gãy kín mắt cá sau được phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp vít tại Khoa Ngoại Chấn thương chỉnh hình, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông, trong năm 2023.
Kết quả cho thấy 69% trường hợp là gãy ba mắt cá. Trên CT-scan, 38% người bệnh có cấp kênh mặt khớp mắt cá sau trên 3 mm, trong khi trên X-quang quy ước, phần lớn trường hợp được ghi nhận cấp kênh từ 0-1 mm.
Phân tích theo phân loại Bartonicek cho thấy ngay cả những trường hợp không trật khớp cổ chân vẫn có thể thuộc nhóm tổn thương phức tạp. Khi kết hợp phân loại Haraguchi và Bartonicek, nhóm Haraguchi II chiếm tỷ lệ cao nhất, trong đó nhiều trường hợp tương ứng với tổn thương Bartonicek loại C.
Theo nhóm nghiên cứu, việc đánh giá hình ảnh CT-scan giúp bác sĩ có thêm thông tin về hình thái ổ gãy, mức độ tổn thương mặt khớp và các tổn thương phối hợp. Đây là cơ sở quan trọng để lựa chọn phương án điều trị phù hợp, đặc biệt trong những trường hợp cần cân nhắc chỉ định phẫu thuật.
Báo cáo thứ ba của Bệnh viện Đa khoa Hà Đông là “Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị gãy đầu ngoài xương đòn bằng nẹp vít khóa đa hướng – kinh nghiệm ban đầu”, do bác sĩ Nguyễn Quý Duy trình bày.
Nghiên cứu được thực hiện trên 32 bệnh nhân gãy đầu ngoài xương đòn được phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp vít khóa đa hướng tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông từ tháng 1/2021 đến tháng 1/2026.
Tuổi trung bình của người bệnh là 45 tuổi; nam giới chiếm 65,6%. Tai nạn giao thông là nguyên nhân chủ yếu, chiếm 62,5%. Gãy Neer II chiếm 84,4%, trong đó Neer IIB chiếm 46,9%; 68,8% trường hợp có di lệch trên 10 mm.

Hình ảnh Bác sĩ Nguyễn Quý Duy trình bày tại hội nghị khoa học chấn thương chỉnh hình Việt nam lần thứ 23
Nẹp 5 lỗ được sử dụng ở 22/32 trường hợp. Kết quả theo dõi cho thấy tỷ lệ liền xương tại thời điểm 6 tháng đạt 100%, thời gian liền xương trung bình 10,8 tuần.
Sau 12 tháng, biên độ vận động khớp vai được cải thiện với gấp vai trung bình 166 độ, dạng vai 165 độ và xoay ngoài 61 độ. Điểm Constant-Murley trung bình đạt 92,2 điểm; các trường hợp trong nghiên cứu đều đạt kết quả tốt và rất tốt. Đau hoặc kích ứng vùng nẹp được ghi nhận ở 18,8% trường hợp; không ghi nhận nhiễm khuẩn sâu hoặc khớp giả.
Nhóm nghiên cứu cho rằng nẹp vít khóa đa hướng có thể tạo điều kiện cố định đa mặt phẳng đối với các mảnh xương ngoại vi nhỏ, đồng thời cho phép lựa chọn chiều dài nẹp phù hợp với hình thái ổ gãy và bảo tồn khớp cùng vai - đòn.
Từ nghiên cứu đến ứng dụng công nghệ trong điều trị
Một trong những nội dung xuyên suốt hội nghị năm nay là xu hướng ứng dụng khoa học công nghệ vào chẩn đoán, phẫu thuật và phục hồi chức năng trong chấn thương chỉnh hình.
Các chuyên gia tập trung trao đổi về trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), phẫu thuật robot, phẫu thuật định vị (navigation), vật liệu mới, vật liệu thay thế và công nghệ sinh học. Đây được xem là những hướng phát triển đang tạo ra nhiều thay đổi trong cách tiếp cận các bệnh lý cơ xương khớp, đồng thời đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với đội ngũ bác sĩ về năng lực chuyên môn và khả năng cập nhật công nghệ.
Trong bối cảnh đó, việc các bệnh viện trong nước tăng cường nghiên cứu, đánh giá kết quả điều trị và chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn có ý nghĩa quan trọng. Với 3 báo cáo được trình bày tại hội nghị, các bác sĩ Bệnh viện Đa khoa Hà Đông đã chia sẻ những dữ liệu bước đầu từ thực hành điều trị tại bệnh viện, tập trung vào các kỹ thuật phẫu thuật và phương tiện chẩn đoán đang được ứng dụng trong chấn thương chỉnh hình.
Cũng tại hội nghị, lần đầu tiên Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức triển khai ca phẫu thuật robot thay khớp gối cho người bệnh thoái hóa khớp gối hai bên, đau kéo dài nhiều năm. Đây là một trong những nội dung cho thấy tốc độ cập nhật công nghệ mới trong lĩnh vực thay khớp tại Việt Nam.
Sự phát triển của chấn thương chỉnh hình hiện nay không chỉ nằm ở việc đưa một kỹ thuật mới vào phòng mổ, mà còn ở quá trình đánh giá hiệu quả, chuẩn hóa quy trình, lựa chọn đúng người bệnh và theo dõi kết quả lâu dài. Những nghiên cứu từ thực tiễn điều trị, trong đó có các báo cáo của Bệnh viện Đa khoa Hà Đông, góp phần bổ sung dữ liệu chuyên môn và thúc đẩy trao đổi kinh nghiệm giữa các cơ sở y tế.
Qua đó, mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng khoa học công nghệ trong chấn thương chỉnh hình vẫn là nâng cao chất lượng điều trị, giảm tác động của chấn thương và bệnh lý cơ xương khớp, giúp người bệnh sớm phục hồi chức năng và trở lại cuộc sống sinh hoạt, lao động.
Một số hình ảnh các Bệnh viện Đa khoa tại Hội thảo khoa học chấn thương chỉnh hình Việt Nam lần thứ 23./.

