Một số điều cần biết về hậu COVID-19
Thứ Năm 24/03/2022 08:57:11
Không giống một số bệnh lý khác, có xu hướng chỉ xảy ra ở những người đã bị bệnh nặng, hậu COVID-19 có thể xảy ra với bất kỳ ai đã bị mắc COVID-19, ngay cả khi bị bệnh nhẹ. Thậm chí trong thời gian mắc bệnh, họ không có triệu chứng thì vẫn có thể bị hậu COVID-19. Ở nhóm bệnh nhân nhẹ, không có triệu chứng, người ta thấy có thể gặp 10-35%. Nhóm bệnh nhân nặng có bệnh nền có thể gặp tới 80% di chứng. 1. Hậu COVID-19 là gì? Tháng 10/2021, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công bố định nghĩa chính thức về hậu COVID-19. Hậu COVID-19 xảy ra ở người có tiền sử nhiễm SARS-CoV-2, thường là 3 tháng kể từ khi bắt đầu mắc COVID-19 với các triệu chứng và kéo dài ít nhất 2 tháng mà không thể giải thích bằng chẩn đoán thay thế. Về mặt lâm sàng, các triệu chứng sau COVID-19 chia thành 2 giai đoạn. Những triệu chứng kéo dài 4-12 tuần sau khi mắc bệnh gọi là tình trạng COVID-19 kéo dài còn các triệu chứng kể từ khi mắc COVID-19 kéo dài sau 3 tháng thì gọi là hậu COVID-19. Theo WHO, hậu COVID-19 có thể khiến sức khỏe con người bị suy giảm kéo dài, có tác động nghiêm trọng đến khả năng quay trở lại làm việc hoặc tham gia cuộc sống xã hội của người bị mắc COVID-19. Họ bị ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần và có thể gây ra những hậu quả kinh tế đáng kể cho bản thân, cho gia đình và cho xã hội. WHO ước tính 10 - 20% bệnh nhân COVID-19 trải qua các triệu chứng kéo dài trong nhiều tháng sau khi mắc bệnh. 2. Biểu hiện của hôi chứng hậu COVID ? Hội chứng hậu Covid có biểu hiện rất đa dạng. Có khoảng 200 triệu chứng xuất hiện sau khi bệnh nhân khỏi COVID-19, làm ảnh hưởng đến các hoạt động hàng ngày. - Các triệu chứng phổ biến nhất bao gồm: Mệt mỏi hay cảm giác yếu sức (gặp ở 2/3 bệnh nhân) Khó thở, nhất là khó thở khi gắng sức Ho kéo dài Đau ngực hay khó chịu vùng ngực - Các triệu chứng ít gặp hơn: nhức đầu, suy giảm trí nhớ, mất tập trung, chóng mặt, choáng váng, tim đập nhanh, đau khớp, đau cơ, mất mùi vị, rối loạn tiêu hóa, ăn kém, mất ngủ, rụng tóc. - Các triệu chứng có thể mới khởi phát sau khi đã hồi phục sau đợt COVID-19 cấp tính hoặc kéo dài từ đợt bệnh ban đầu. Các triệu chứng cũng có thể dao động hoặc tái phát theo thời gian. 3. Tại sao phải quan tâm khám hậu covid? - Tùy vào nghiên cứu ở các quốc gia, có khoảng 1/3 đến 4/5 bệnh nhân mắc ít nhất một trong các triệu chứng của hội chứng hậu Covid sau 4 tuần nhiễm bệnh. - Những triệu chứng của hội chứng hậu Covid tuy không có nguy cơ gây tử vong nhưng sẽ khiến bệnh nhân cảm thấy khó chịu trong một khoảng thời gian (thường là 3-6 tháng, có thể kéo dài đến 12 tháng) sau khi bệnh Covid-19, gây ảnh hưởng đến các hoạt động thường ngày của bệnh nhân, làm sụt giảm nghiêm trọng chất lượng sống của bệnh nhân hậu Covid. - Theo nghiên cứu, khoảng 40-60% bệnh nhân Covid-19 không thể trở lại các hoạt động sống bình thường sau khi xuất viện. Đối với bệnh nhân Covid-19 nhẹ (điều trị tại nhà) cũng có khoảng 10-35% bệnh nhân không thể trở lại tình trạng sức khỏe ban đầu và bị suy giảm chất lượng cuộc sống. 4. Những ai hay gặp hội chứng hậu COVID? - Đối tượng nữ sẽ có nguy cơ hơn nam, thường gặp ở tuổi trung niên và lớn tuổi (trên 35 tuổi), và có thể gặp cả ở trẻ em. Những bệnh nhân lớn tuổi, có bệnh đi kèm, hút thuốc. Bệnh nhân mang thai, có Markers viêm cao, giảm bạch cầu, thiếu oxy máu kháng trị Mặc dù bệnh Covid-19 mức độ nặng để lại nhiều di chứng tàn phá cơ thể hơn, tuy nhiên không có sự tương quan chính xác giữa mức độ bệnh Covid-19 và mức độ của hội chứng hậu Covid. Do đó nhóm đối tượng được chẩn đoán mắc bệnh Covid-19 nhẹ cũng có thể bị tác động bởi hội chứng hậu Covid, hay nói cách khác ai cũng có nguy cơ mắc hội chứng hậu Covid. Hậu COVID-19 có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi, kể cả trẻ em. Tuy nhiên, ở trẻ em hậu COVID-19 thường nhẹ và ít hơn người trưởng thành. Biến chứng hậu COVID-19 đáng lo ngại nhất ở trẻ em là hội chứng viêm đa hệ thống ở trẻ (Multisystem Inflammatory Syndrome in Children: MIS-C), tổn thương đến tim, phổi, thận, mạch máu…. Trong khi với bệnh nhân mắc COVID-19 mức độ nặng/nguy kịch, cần can thiệp y tế nhiều trong giai đoạn điều trị chính của bệnh (như nhập vào các khoa hồi sức tích cực, cấp cứu) thì các vấn đề về hậu COVID-19 sẽ nhiều và trầm trọng hơn. Với người có sẵn bệnh nền như bệnh tim mạch, tiểu đường, đặc biệt là hô hấp, viêm phổi tắc nghẽn mạn tính, viêm phế quản mạn… khi COVID-19 xảy ra trên nền bệnh đó có thể khiến tổn thương vốn có của họ trở nên nặng hơn. 5. Tuy nhiên không nên quá lo lắng. Khi thấy có những biểu hiện, triệu chứng hậu COVID-19 trên đây, người dân nên tìm đến nhân viên y tế. Các bác sĩ sẽ xác định tình trạng bệnh, hướng dẫn điều trị triệu chứng và những chăm sóc sức khỏe cần thiết. Hiện nay, việc điều trị tình trạng hậu COVID-19 là điều trị không đặc hiệu, bệnh nhân sẽ được điều trị triệu chứng, chăm sóc toàn diện, phục hồi chức năng. Theo ghi nhận thực tế của các bác sĩ, hầu hết những biến chứng hậu COVID-19 không gây nguy hiểm tử vong, mà chủ yếu ảnh hưởng đến cuộc sống hằng ngày của người bệnh. Các triệu chứng phổ biến như trầm cảm, mất ngủ, lo âu kéo dài… Để khắc phục tình trạng này, các bác sĩ sẽ tư vấn kết hợp vật lý trị lệu để điều chỉnh cải thiện tình trạng. Với trẻ nhỏ, thực tế từ các phòng khám hậu COVID-19 cho thấy trẻ thường được đến khám cùng bố mẹ (gia đình có nhiều người mắc bệnh), ít có các triệu chứng hậu COVID-19 hơn người trưởng thành. Nhiều trẻ em khám hậu COVID-19 nhưng không cần chụp chiếu, lấy máu xét nghiệm vì các em chỉ mắc ở mức độ rất nhẹ, thời gian mắc ngắn, khám lâm sàng không thấy dấu hiệu khó thở, ho trong khi năng lượng hoạt động các em vẫn rất tốt. Sau khi cân nhắc lợi ích - nguy cơ thì bác sĩ cho rằng không cần phải lấy máu xét nghiệm hay chụp chiếu, chỉ dặn bố mẹ theo dõi sát, nếu trẻ có triệu chứng sẽ tái khám và làm xét nghiệm liên quan triệu chứng. Tuy nhiên, nếu trẻ được chẩn đoán sớm, phát hiện hội chứng MIS-C sớm và điều trị đúng, kịp thời thì diễn tiến thường thuận lợi, trẻ phục hồi tốt. 6. Bạn nên làm gì khi bị hội chứng hậu COVID? Cách tốt nhất để ngăn ngừa các di chứng hậu COVID là phòng ngừa tránh mắc bệnh COVID -19.  Đối với những người không có chống chỉ định tiêm phòng COVID 19, hãy tiêm vắc-xin chống lại COVID-19 ngay khi có thể là cách tốt nhất để phòng tránh COVID-19 và cũng có thể giúp những người xung quanh nguy cơ mắc bệnh này. Nếu chẳng may bạn bị mắc COVID-19 bạn hay tuân thủ điều trị theo hướng dẫn điều trị của nhân viên y tê, đặc biệt không tự ý mua và dùng thuốc trôi nổi trên thị trường. Khi bạn thấy có những biểu hiện của hội chứng hậu COVID-19, bạn hãy đến cơ sở y tế có uy tín. Các bác sĩ sẽ xác định tình trạng bệnh và hướng dẫn điều trị triệu chứng và những chăm sóc sức khỏe cần thiết. Hiện nay, việc điều trị tình trạng hậu COVID 19 là điều trị không đặc hiệu, điều trị triệu chứng, chăm sóc toàn diện và phục hồi chức năng. Hiện nay, chúng ta còn đang tiếp tục nghiên cứu xem tại sao một số người lại mắc tình trạng này, trong khi đa số không mắc, cơ chế bệnh sinh dẫn đến tình trạng này ra sao và cách xử trí điều trị tốt nhất cho tình trạng này.

Xem Thêm

Phẫu thuật nội soi khớp gối
Thứ Năm 24/03/2022 08:57:02
Phẫu thuật nội soi(PTNS) khớp gối là một loại phẫu thuật tiên tiến được sử dụng để chẩn đoán và điều trị đau đầu gối hoặc các vấn đề đầu gối khác. Nó có thể được sử dụng cho viêm, tổn thương, chấn thương và nhiễm trùng. Cụ thể tại khoa Chấn thương chỉnh hình -  Bệnh viện Đa khoa Hà Đông, trường hợp bệnh nhân N.P.T nam 25T Đông Yên – Quốc Oai Hà Nội bị tai nạn thể thao cách vào viện 4 tháng, được chẩn đoán " Đứt dây chằng chéo trước, rách sụn chêm trong gối phải" đã được phẫu thuật nội soi tái tạo dây chằng chéo trước bằng gân tự thân và cắt sửa sụn chêm, sau 3 ngày bệnh nhân được ra viện và bắt đầu được tập phục hồi chức năng.                       GIẢI PHẪU HỌC KHỚP GỐI Khớp gối bao gồm 4 bộ phận chính: xương, sụn, dây chằng và gân: Xương: khớp gối được hình thành bởi 03 xương đó là: xương đùi, xương chày và xương bánh chè; Sụn: bao gồm sụn khớp và sụn chêm. Trong đó sụn khớp nằm ở đầu dưới xương đùi, đầu trên xương chày và mặt sau của xương bánh chè được bao bọc bởi sụn khớp. Còn sụn chêm nằm giữa các mặt khớp xương đùi và xương chày có hai miếng sụn có hình chêm, được gọi là sụn chêm và nó đóng vai trò như bộ phận “giảm xóc" cho cơ thể; Dây chằng: Các xương sẽ được kết nối lại với nhau nhờ vào hệ thống dây chằng này. Khớp gối của cơ thể sẽ có tới 4 dây chằng chính để giúp liên kết các xương lại với nhau và giữ vững cho khớp. Gân: Có tác dụng giúp cơ liên kết với xương. các cơ quan phía trước đùi và liên kết với xương chày nhờ vào xương bánh chè. PHẪU THUẬT NỘI SOI KHỚP GỐI LÀ GÌ Phẫu thuật nội soi khớp gối là bước tiến vượt bậc của chuyên ngành chấn thương chỉnh hình. Đây được xem là một kỹ thuật ngoại khoa hiện đại, ít xâm lấn và ít làm tổn hại đến mô, cho phép các bác sĩ chẩn đoán và điều trị những bệnh lý liên quan đến khớp gối bằng việc cung cấp những hình ảnh rõ ràng bên trong khớp. Trong những năm gần đây, phương pháp phẫu thuật nội soi ít xâm lấn dần thay thế phương pháp phẫu thuật mở trong chấn thương chỉnh hình.  Phương pháp phẫu thuật có thể được lựa chọn để điều trị trong các trường hợp sau: Đứt dây chằng chéo trước Đứt dây chằng chéo sau Rách sụn chêm khớp gối Viêm màng hoạt dịch khớp gối CÁC BƯỚC THỰC HIỆN Bác sĩ sẽ đưa ống kính soi vào bên trong khớp gối với vết mổ rất nhỏ (khoảng 0.5cm), soi trên camera, kiểm tra toàn bộ cấu trúc bên trong khớp, từ đó đưa ra chẩn đoán và phương pháp điều trị thích hợp.Thời gian phẫu thuật thường mất từ 30-45 phút. Phẫu thuật nhẹ nhàng, đau ít, kết quả tốt. Hình ảnh các Bs khoa Chấn thương chỉnh hình thực hiện phẫu thuật nội soi khớp gối cho bệnh nhân T                         PHẪU THUẬT NỘI SOI KHỚP GỐI CÓ CÁC ƯU ĐIỂM: - Thời gian nằm viện ngắn từ 3-5 ngày.Tổn thương phục hồi nhanh, giảm đau, giảm nhiễm trùng.

Xem Thêm

Bệnh viện đa khoa Hà Đông hưởng ứng ngày sức khỏe Răng miệng Thế giới 20/3/2022
Chủ Nhật 20/03/2022 15:44:34
Như thường niên, ngày 20/03 hàng năm Khoa Răng Hàm Mặt - Bệnh viện đa khoa Hà Đông tổ chức chương trình " KHÁM TƯ VẤN RĂNG MIỆNG MIỄN PHÍ" nhằm hưởng ứng ngày sức khoẻ răng miệng thế giới 20/03/2022. Với khẩu hiệu năm 2022 là "Be Proud of Your Mouth" - Tạm dịch "Hãy Tự Hào Về Răng Miệng Của Bạn". Theo đó, ngày 15/03/2022 - 25/03/2022 Bệnh viện đa khoa Hà Đông tổ chức khám, tư vấn về Răng Hàm Mặt và tặng 100 suất quà miễn phí cho người dân. Đây là hoạt động thiết thực của Khoa Răng Hàm Mặt - Bệnh viện đa khoa Hà Đông nhằm hỗ trợ chăm sóc sức khỏe răng miệng cho cộng đồng, góp phần làm giảm thiểu các bệnh lý về răng miệng. Trước đó, Khoa Răng Hàm Mặt, đã bố trí dụng cụ, đồ bảo hộ, găng tay, que khám và phân công nhân lực, phòng điều trị cho công tác khám, điều trị bệnh răng miệng. Toàn thể bác sĩ, nhân viên của Khoa đã tham gia vào quá trình khám và điều trị, bao gồm khám răng miệng, tư vấn và tặng quà cho bệnh nhân. Người dân đến khám được tư vấn dựa trên tình trạng răng miệng hiện tại và được các bác sĩ lên kế hoạch điều trị phù hợp nhất. BSCKII Trịnh Xuân Học, Trưởng khoa Răng Hàm Mặt cho biết: “Năm nay, Khoa Răng Hàm Mặt, bệnh viện đa khoa Hà Đông rất vinh dự được Hội Răng Hàm Mặt Việt Nam mời tham gia hưởng ứng Ngày Sức khoẻ răng miệng thế giới 20/3. Đây là hoạt động thường niên của Hội Răng Hàm Mặt Việt Nam để phổ biến kiến thức, khám và điều trị cho người dân về các bệnh răng miệng, góp phần cải thiện và nâng cao sức khỏe răng miệng cho người dân Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung”. Một số hình ảnh tại tuần lễ hưởng ứng ngày sức khỏe Răng miệng Thế giới:

Xem Thêm

Thư mời chào hàng vật tư thiết bị y tế
Thứ Ba 15/03/2022 12:58:22
Kính gửi: Các công ty nhập khẩu, sản xuất và cung ứng vật tư thiết bị y tế Căn cứ vào nhu cầu sử dụng vật tư y tế phục vụ công tác khám chữa bệnh tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông; Căn cứ nội dung cuộc họp Hội đồng mua sắm Bệnh viện đa khoa Hà Đông về việc xây dựng danh mục, số lượng vật tư y tế phục vụ công tác chuyên môn Bệnh viện năm 2022. Để có căn cứ triển khai Kế hoạch mua sắm kịp thời vật tư y tế phục vụ cho công tác khám chữa bệnh, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông kính mời quý Công ty gửi thông tin chào hàng về vật tư, hàng hóa (Chủng loại, số lượng, chất lượng, giá cả và tiến độ cung ứng hàng hóa) cho Bệnh viện (có bảng phụ lục nhu cầu danh mục và số lượng đính kèm). Bệnh viện Đa khoa Hà Đông rất mong được sự hợp tác của quý Công ty, và mong sớm có sự phản hồi. Mọi thông tin xin gửi về địa chỉ: - Phòng Vật tư TBYT - Bệnh viện Đa khoa Hà Đông. - Địa chỉ: Số 2 Bế Văn Đàn, P. Quang Trung, Q. Hà Đông, TP. Hà Nội - Điện thoại liên hệ: Số máy bàn: 02433.825.264 hoặc số di động: 0967.678.388 Trân trọng cảm ơn! Phụ lục danh mục và số lượng vật tư, hàng hoá mời chào hàng https://benhvienhadong.vn/laravel-filemanager/files/9/Doc1.pdf        

Xem Thêm

Bệnh nhân đột quỵ tăng cao trong rét đậm
Thứ Tư 02/03/2022 15:26:58
Nhiệt độ xuống thấp, nguy cơ đột quỵ não, nhồi máu cơ tim có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Khi thời tiết rét đậm cũng là thời điểm số ca tử vong do hai bệnh lý này tăng. Trong diễn biến phức tạp của bệnh COVID-19, nhiều người cho rằng nếu nhiễm virus SARS-CoV-2 sẽ gây tổn thương phổi dẫn đến khó thở, suy hô hấp. Tuy nhiên theo ghi nhận của các nhà nghiên cứu thì đột quỵ cấp sau mắc COVID- 19 xảy ra với tỷ lệ cao. BSCKII. Nguyễn Thành Trung - Trưởng khoa Cấp cứu, Bệnh viện đa khoa Hà Đông cho biết: Thời tiết rét đậm ảnh hưởng nhiều đến các bệnh nhân có bệnh về huyết áp, tim mạch. Số người đến khám, cấp cứu do bệnh lý tim mạch tăng khoảng 10 - 15% những ngày gần đây. Các trường hợp đến khám và điều trị chủ yếu là do huyết áp tăng vọt (tăng huyết áp cấp tính), suy tim trở nặng, bị mạch vành gây khó thở, đau ngực, độ tuổi chủ yếu từ 60-70, nhưng cũng có nhiều bệnh nhân chưa đến 50 tuổi. "Một số trường hợp dù đang điều trị thuốc có thể xuất hiện cơn cao huyết áp vào đầu giờ sáng, vì vậy người dân nên lưu ý kiểm tra huyết áp. Khi huyết áp tăng cao, cần bình tĩnh nằm nghỉ ngơi, tuyệt đối không lo lắng căng thẳng vì như vậy càng khiến huyết áp tăng cao. Khi cơ thể ấm lên, các mạch giãn ra làm giảm áp lực máu sẽ giúp giảm được tăng huyết áp. Ngoài ra, nên liên lạc ngay với bác sĩ để được tư vấn, xử trí nếu thấy không kiểm soát được huyết áp" - BS. Trung tư vấn. Bác sĩ thăm khám cho bệnh nhân. BS. Trung cũng cho hay, đột quỵ xảy ra khi nguồn cung cấp máu cho một phần não bị giảm hoặc mất hoàn toàn do mạch máu não bị tắc hoặc bị vỡ khiến các mô não không nhận được oxy và chất dinh dưỡng, tế bào não bắt đầu chết dần trong vài phút. Có hai loại đột quỵ chính theo thương tổn đó là: Thể mạch máu não bị tắc nghẽn là nhồi máu não; Thể mạch máu não bị vỡ gọi là xuất huyết não. Một số người có thể chỉ bị gián đoạn tạm thời lưu lượng máu đến não là cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua. BS. Trung lưu ý đây cũng là "điềm báo" về nguy cơ đột quỵ về sau nếu không được dự phòng sớm. Đối với nhồi máu cơ tim, về cơ chế giống như thể nhồi máu não, tức là các tế bào cơ tim bị thiếu máu cấp tính do mạch nuôi tim bị tắc nghẽn khiến tim bị "chết" một phần hoặc toàn bộ tử vong rất nhanh. Cả hai bệnh này đều cấp tính và quan trọng nhất đó là dự phòng. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm có khoảng 15 triệu người mắc đột quỵ. Trong đó, khoảng 5 triệu người tử vong và 5 triệu người thương tật vĩnh viễn do đột quỵ, làm gia tăng gánh nặng kinh tế cho gia đình và cộng đồng. Tại Việt Nam, Bộ Y tế ghi nhận mỗi năm nước ta ghi nhận thêm 200.000 ca đột quỵ, khoảng 50% trường hợp tử vong, nhiều người sống sót sau đột quỵ phải sống chung với các di chứng về thần kinh, vận động... Tỷ lệ đột quỵ ở người trẻ tuổi đang có xu hướng tăng lên, trung bình khoảng 2% mỗi năm, số lượng nam giới cao gấp bốn lần nữ giới. Trong đó, nhiều người bệnh không biết mình mang yếu tố nguy cơ, đến khi bị đột quỵ, đo huyết áp, thử đường huyết mới phát hiện. Thời tiết rét đậm còn kéo dài, BS.Trung khuyến cáo những điều cần nhớ và chú để dự phòng cơn đột quỵ, nhồi máu cơ tim đó là: - Luôn tuân thủ điều trị và kiểm soát đường máu, mỡ máu và huyết áp với những người cao huyết áp, đái tháo đường hay tăng mỡ máu; - Duy trì những thói quen tốt cho sức khoẻ hằng ngày như không hút thuốc lá, giảm rượu mạnh, ngủ trước 23h và dậy sớm thể dục có thể đi bộ, chạy bộ…; - Tránh những thói quen không tốt trong ăn uống làm tăng nguy cơ bị đột quỵ, nhồi máu cơ tim như ăn quá mặn, ăn nhiều thực phẩm xào, rán, quay, nướng, thịt nguội, xúc xích hay những thực phẩm đóng hộp công nghiệp. Chúng ta nên tạo thói quen ăn sáng đủ đầy, ăn trưa vừa phải và ăn tối ít, ưu tiên ăn đồ luộc, hấp…; - Tránh ngồi lâu 1 tư thế vì rất dễ hình thành những cục huyết khối bắn đi gây tắc mạch não, mạch vành, mạch phổi. Khi ngồi máy bay, ô tô dường dài, ngồi làm việc lâu... cứ tối đa 60 phút nên rời khỏi vị trí, vận động ép giãn cơ thể, vươn thở, co duỗi tay chân; - Mùa lạnh này cần tránh để cơ thể tiếp xúc với sự thay đổi nhiệt độ đột ngột, đặc biệt người già. Sau khi tỉnh giấc chưa vội tung chăn rời khỏi giường hoặc "lao" ra đường ngay. Luôn xoa lòng bàn tay bàn chân vào nhau hoặc khởi động cơ thể trong chăn 1 lúc trước khi ra khỏi giường . Lưu ý, mặc dù thể dục thể thao tốt cho tim mạch nhưng những ngày trở lạnh, người tăng huyết áp, tim mạch cần giữ ấm, không để lạnh đột ngột gây co mạch khiến huyết áp có thể tăng đột ngột, nguy hiểm cho sức khỏe, tăng nguy cơ đột quỵ. - Người dân nên chuyển việc tập thể dục buổi sáng sớm vào thời gian buổi chiều vì khi đó nhiệt độ môi trường đã ấm áp hơn và cơ thể cũng đã có thích nghi trong ngày. Nếu thể dục buổi sáng nên tập nhẹ nhàng trong nhà và nguyên tắc cơ bản là luôn giữ ấm cơ thể, tránh bị nhiễm lạnh đột ngột khi ra khỏi chăn ấm, khi đi vệ sinh lúc sáng sớm hay trong đêm, khi ra khỏi nhà. - Ngoài ra nên tạo thói quen đi kiểm tra sức khoẻ định kỳ hằng năm đặc biệt là khám chuyên khoa tim mạch. Có thể chụp cắt lớp khảo sát mạch vành tim, chụp cộng hưởng từ sọ não mạch máu não, siêu âm động mạch cảnh hai bên để phát hiện sớm những bất thường trong hệ thống mạch máu. Số người đến khám, cấp cứu do bệnh lý tim mạch tăng khoảng 10 - 15% những ngày gần đây. Ai có nguy cơ cao bị đột quỵ/nhồi máu cơ tim? Đối tượng dễ bị đột quỵ/nhồi máu cơ tim gồm: Tăng cân béo phì, ít vận động thể thao, Người bị tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng mỡ máu, Người có tiền sử người thân bị tai biến, nhồi máu, người đang chữa ung thư, người bị bệnh thận mạn tính hoặc bị bệnh hệ thống - miễn dịch, Phụ nữ có tiền sử bị đái tháo đường thai kỳ hoặc tiền sản giật, Người nằm lâu sau phẫu thuật (thay khớp, phâu thuật ổ bụng...). Khi đột ngột đau nhức đầu hoặc đang ăn cơm tự nhiên rơi đũa hoặc lắp bắp nói khó dấu hiệu của đột quỵ, chúng ta có thể kiểm tra nhanh thêm những dấu hiệu như bảo người đó nói to chứ "A" với hơi dài, hoặc bảo thè lưỡi, huýt sáo và cần đưa đến cơ sở y tế gần nhất để cấp cứu.

Xem Thêm

Tập huấn triển khai thông tư 31/2021/TT-BYT: Duy trì và phát triển quản lý chất lượng chăm sóc người bệnh – vai trò điều dưỡng trưởng – thách thức và giải pháp
Thứ Sáu 25/02/2022 08:31:43
   Với mục đích nắm bắt, hiểu rõ, hiểu sâu, xác định vai trò của Điều dưỡng trưởng nói riêng và hệ thống điều dưỡng nói chung để triển khai thông tư có ý nghĩa và sát thực, thay đổi cải tiến và đưa chất lượng chăm sóc của người điều dưỡng lên bước mới, góp phần nâng cao chất lượng điều trị, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Chiều ngày 16/02/2022, Phòng Điều Dưỡng BVĐK Hà Đông tiến hành buổi tập huấn, hướng dẫn và thảo luận chia sẻ tới đội ngũ Điều dưỡng trưởng trong toàn bệnh viện nội dung triển khai thông tư 31/2021/TT- BYT về Quy định hoạt động điều dưỡng trong bệnh viện - có hiệu lực ngày 27/02/2022. Tham gia tập huấn có các điều dưỡng, kỹ thuật viên, hộ sinh, đang công tác tại bệnh viện đa khoa Hà Đông bằng hình thức trực tuyến qua Zoom.    Tại tập huấn, các học viên được trang bị những kiến thức cơ bản về quy định hoạt động điều dưỡng trong bệnh viện; thách thức trước đại dịch Covid-19 qua đó thay đổi để thích ứng làm nổi bật lên vai trò quan trọng của điều dưỡng trưởng trong chăm sóc người bệnh từ đó đề ra các giải phát để chăm sóc người bệnh một cách toàn diện, phù hợp với từng trường hợp cụ thể…Buổi tập huấn diễn ra sôi nổi và đạt được hiệu quả tốt, nhận phản hồi tích cực từ hệ thống điều dưỡng trưởng trong toàn bệnh viện. Qua đó giúp các học viên thực hiện tốt quy định về hoạt động điều dưỡng trong bệnh viện, góp phần nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh tại đơn vị. Kết thúc buổi tập huấn, đội ngũ điều dưỡng trưởng BV đa khoa Hà Đông nhất trí, thống nhất đoàn kết quyết tâm xác định tâm thế làm việc và học tập tốt nhất để hoàn thành mọi mục tiêu đề ra. Một số hình ảnh tại buổi tập huấn:  

Xem Thêm

Bệnh viện đa khoa Hà Đông vinh dự nhận bằng khen đã có thành tích trong công tác khám chữa bệnh trong dịp Tết Nguyên Đán Nhâm Dần 2022 của Sở y tế
Thứ Sáu 25/02/2022 08:18:43
  Vừa qua, tại Hội nghị giao ban đầu năm ngành y tế Hà Nội. Bệnh viện đa khoa Hà Đông vinh dự nhận bằng khen của Sở Y tế Hà Nội trao tặng – Là một trong những đơn vị có thành tích về công tác khám chữa bệnh trong dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022. TTUT.BSCKII Đào Thiện Tiến (thứ 3 từ phải sang)- Giám đốc bệnh viện đa khoa Hà Đông vinh dự đón nhận bằng khen của SYT Hà Nội trao tặng     Là bệnh viện đa khoa hạng I của Thành Phố Hà Nội, năm 2021, đối mặt với thách thức của dịch bệnh Covid -19 trên toàn cầu, Bệnh viện đa khoa Hà Đông đã có những giải pháp hoạt động khám chữa bệnh hiệu quả, đảm bảo an toàn phòng chống dịch bệnh, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế Thành phố, hoàn thành tốt nhiệm vụ kế hoạch đã đặt ra.  Năm 2021, công suất sử dụng giường bệnh theo kế hoạch đạt 83.85%. Tổng số lượt khám bệnh 282.335 lượt đạt 108.6%, trong đó số lượt người bệnh điều trị nội trú là 31.441 người đạt 90.6%; Số lượt người bệnh điều trị ngoại trú là 13.786 người đạt 84.6%. Đặc biệt, trong năm 2021, Bệnh viện đã triển khai tốt việc phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do Covid-19 tại đơn vị: Bệnh viện đã tiêm được tổng 29.674 mũi vắc xin phòng Covid-19 (trong đó: BVĐK Hà Đông: 13.354 mũi; TTYT Hà Đông, Thanh Xuân….11.522 mũi; ĐSQ Trung Quốc: 808 mũi; Hỗ trợ tiêm tại các phường: 3.990 mũi). Đáp ứng 200 giường tầng 3; 200 giường tầng 2 và 3000 giường tầng 1; Tình hình khám ngoại trú, theo dõi cách ly và điều trị cho bệnh nhân nghi nhiễm Covid – 19 tính cho đến thời điểm hiện tại: Tổng số lượt khám sàng lọc: 43.806 người; Tổng số lượt điều trị tại khoa bệnh nhiệt đới và cơ sở thu dung Pháp Vân là 4997 bệnh nhân; Test nhanh kháng nguyên SARS-CoV-2: 31.808 xét nghiệm; Xét nghiệm PCR RT Covid-19: 106.384 xét nghiệm… Phong trào nghiên cứu, sáng tạo, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật công nghệ mới, hiện đại vào thực tế khám chữa bệnh được đẩy mạnh, phát huy năng lực sáng tạo, nhiệt huyết cống hiến của đội ngũ bác sĩ, nhân viên y tế, bệnh viện. Năm qua cũng ghi nhận sự “bứt phá” mạnh mẽ của Bệnh viện đa khoa Hà Đông trong công tác khám chữa bệnh, cấp cứu với nhiều kỹ thuật cao, hiện đại mang tính “đột phá” được triển khai trên các lĩnh vực ngoại khoa, thần kinh – sọ não – cột sống, ung bướu. Nhiều phương pháp điều trị can thiệp ít xâm lấn hiện đại như kỹ thuật tim phổi nhân tạo ECMO, điều trị suy giãn tĩnh mạch bằng laser, kỹ thuật bơm Surfactant điều trị suy hô hấp ở trẻ sinh non, tán sỏi thận, sỏi đường mật qua da, nút mạch khối u, ung thư, … giúp người dân hưởng dịch vụ y tế chất lượng cao ngay tại địa phương, tiết kiệm chi phí điều trị. Với những thành tựu đạt được trong năm 2021, Bệnh viện đa khoa Hà Đông vinh dự là đơn vị y tế được Giám đốc Sở Y tế Hà Nội đã ban hành quyết định khen thưởng đột xuất là đơn vị có thành tích về công tác khám chữa bệnh trong dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022. Bằng sự nỗ lực và quyết tâm trong sứ mệnh mang lại sức khỏe cho nhân dân, bệnh viện đa khoa Hà Đông hy vọng bước sang năm 2022 bệnh viện sẽ đoàn kết, thống nhất, cố gắng nỗ lực để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, đáp ứng được sự kì vọng tin tưởng của Sở Y tế, của lãnh đạo thành phố cũng như của tất cả người dân thủ đô, đảm bảo mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe một cách tốt nhất và đại dịch Covid-19 sẽ sớm được đẩy lùi.

Xem Thêm

Làm sao để người có bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính an toàn trong đại dịch Covid-19
Thứ Tư 23/02/2022 09:24:47
Người viêm phổi mạn tính mắc Covid-19 dễ trở nặng Người bệnh viêm phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) nguy cơ chuyển nặng nếu mắc Covid do suy giảm miễn dịch và tổn thương cấu trúc đường thở, nhu mô phổi... Bác sĩ Phí Thị Hải Anh (Trưởng khoa Khám bệnh, Bệnh viện đa khoa Hà Đông, Hà Nội) cho biết thông tin trên và cho biết thêm tình trạng tăng tiết đàm nhầy dai dẳng ở người bệnh COPD cũng khiến các triệu chứng Covid nặng hơn. BSCKI Nguyễn Thị Thanh Minh thăm khám cho bệnh nhân COPD tại phòng khám Bà Anh dẫn nghiên cứu tại Mỹ cho thấy 62% người bệnh COPD khi mắc Covid-19 phải nhập viện, so với 28% ở nhóm không COPD. Tỷ lệ tử vong của bệnh nhân Covid kèm bệnh nền COPD là 15% (nhóm không COPD là 4%). Các chuyên gia cho rằng tỷ lệ tử vong này là đáng báo động. Để phòng ngừa nguy cơ chuyển nặng, bác sĩ khuyến cáo nhóm COPD tuân thủ chỉ định điều trị của bác sĩ và duy trì sử dụng thuốc đều đặn. Chủ động theo dõi các dấu hiệu như thân nhiệt, triệu chứng ho, khó thở, đàm, mệt mỏi..., liên hệ y tế khi triệu chứng tái phát. Nếu bệnh trở nặng, nhanh chóng đến bệnh viện để khám và can thiệp sớm. "Bệnh nhân phải tiếp tục sử dụng corticosteroid dạng hít (ICS) kể cả khi mắc Covid, do ICS có tác dụng bảo vệ chống lại đợt cấp tính", bác sĩ Anh nói. Bệnh nhân được bác sĩ khuyến cáo tiêm vaccine Covid-19, cúm, phế cầu. Trước khi tiêm chủng, bệnh nhân phải ở giai đoạn ổn định sức khỏe, sau tiêm nếu khó thở tăng, thở rít, nổi ban dát sẩn ngoài da..., báo ngay cho bác sĩ hoặc đến cơ sở y tế gần nhất. Để giảm tương tác thuốc với vaccine cũng như làm giảm hiệu lực bảo vệ của vaccine, vài tuần sau khi tiêm bệnh nhân COPD tránh dùng thuốc nhóm corticosteroide đường uống và đường tiêm, chuyển sang thuốc corticosteroid dạng hít. Về dinh dưỡng, bệnh nhân cần cân bằng các chất (bột 50%, đạm 15%, béo 35%). Ăn chất béo từ cá hoặc thực vật, tăng cường rau xanh, hoa quả tươi để bổ sung vitamin, đặc biệt là vitamin A, C, E. Uống đủ nước (2-3 lít) để hạn chế táo bón, dễ loãng đờm và khạc đờm dễ dàng. Ngồi thẳng lưng khi ăn, ăn từng miếng nhỏ, ăn chậm. Hạn chế thực phẩm, đồ uống gây đầy bụng.

Xem Thêm

Tiêm vaccine COVID-19 mũi 3 cho bệnh nhân chạy thận nhân tạo
Thứ Tư 23/02/2022 09:07:29
Sáng ngày 18/2, Bệnh viện đa khoa Hà Đông đã tổ chức tiêm vaccine phòng COVID-19 mũi 3 cho gần 200 bệnh nhân đang điều trị thận nhân tạo tại Khoa Nội thận tiết niệu của bệnh viện. Nhằm tạo miễn dịch cộng đồng cũng như bảo vệ sức khỏe, tính mạng cho những người đang chạy thận nhân tạo, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông đã tiến hành tiêm vaccine phòng COVID-19 cho gần 200 bệnh nhân chạy thận. Để bảo đảm an toàn tiêm chủng, Bệnh viện đã tổ chức phân luồng người đến tiêm theo khung giờ, trước khi tiêm vaccine, toàn bộ người tiêm chủng được khám sàng lọc kỹ lưỡng, kiểm tra tình trạng sức khoẻ và đều có kết quả xét nghiệm SARS-CoV-2 âm tính. Đồng thời bố trí kíp cấp cứu có kinh nghiệm và chuyên môn sâu trực để sẵn sàng xử trí khi có tình huống bất lợi xảy ra, đảm bảo an toàn tiêm chủng. Sau tiêm, các bệnh nhân đều được yêu cầu ở lại theo dõi sức khỏe lâu hơn so với những người bình thường khi tiêm vaccine. Khi tất cả các chỉ số đều ổn định, bệnh nhân mới được rời phòng tiêm. Đồng thời, tại đây, bệnh nhân còn được đội ngũ y bác sỹ hướng dẫn, tư vấn kỹ càng về cách thức ăn uống, nghỉ ngơi và những phản ứng phụ sau tiêm để bệnh nhân chủ động theo dõi và báo ngay cho nhân viên y. BSCKII Cao Đức Chinh - Phó Giám đốc Bệnh viện chia sẻ, trước tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp trên địa bàn thành phố Hà Nội, việc bảo vệ đối tượng bệnh lý nền, nguy cơ cao khi nhiễm COVID-19, giảm tỷ lệ tử vong và gánh nặng cho y tế được bệnh viện đặt lên hàng đầu. Thời gian vừa qua, để chăm sóc tốt cho bệnh nhân chạy thận nhân tạo, bệnh viện đã thực hiện phương án: Bệnh nhân vùng đỏ vào điều trị nội trú; còn bệnh nhân các vùng khác khuyến cáo hạn chế tiếp xúc, thực hiện "1 cung đường – 2 điểm đến" và thực hiện test nhanh mỗi lần bệnh nhân đến bệnh viện chạy thận nhân tạo. Vaccine được sử dụng để tiêm bổ sung mũi 3 cho bệnh nhân điều trị nội trú là vaccine Pfizer; khoảng cách tiêm 1 mũi bổ sung sau mũi cuối cùng của liều cơ bản ít nhất 28 ngày. Bệnh nhân điều trị nội trú có tình trạng suy giảm miễn dịch vừa và nặng là những đối tượng nguy cơ cao khi mắc COVID-19. Vì vậy, tiêm bổ sung mũi thứ 3 giúp nâng cao miễn dịch của người bệnh và giảm thiểu tối đa nguy cơ chuyển biến nặng cũng như tử vong với đối tượng này. Chia sẻ sau khi tiêm mũi 3 vaccine phòng COVID-19, hầu hết các bệnh nhân chạy thận bày tỏ sự xúc động và vui mừng vì được Ban Giám đốc bệnh viện quan tâm chăm lo sức khoẻ, tạo điều kiện sắp xếp nguồn vaccine để được tiêm chủng an toàn, trong bối cảnh dịch bệnh có diễn biến phức tạp như hiện nay.    Dưới đây, là một số hình ảnh tiêm vắc xin cho bệnh nhân chạy thận nhân tạo tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông:

Xem Thêm

Uốn ván nguy kịch vì giẫm phải đinh mà không chịu đi khám
Thứ Sáu 11/02/2022 11:08:30
   Bệnh nhân L. cho biết, hơn 10 ngày trước khi vào viện có giẫm phải một chiếc đinh cũ. Do chủ quan thấy vết thương nhỏ lành miệng sớm nên không để ý, đến khi cứng hàm, khó nuốt mới đi khám. ThS.BS Bùi Thị Dương Thảo - Trưởng khoa Thăm dò Chức năng, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông cho biết, mới đây các bác sĩ đã tiếp nhận bệnh nhân Nguyễn Thị L. (sinh năm 1958, Hà Đông, Hà Nội) vào khám với lý do khó nuốt. Bệnh nhân vào khám trong tình trạng tỉnh táo, khỏe mạnh, chỉ có một triệu chứng là nuốt khó nên được bác sĩ phòng khám chỉ định nội soi dạ dày tại Khoa Thăm dò chức năng. Theo quy định trước khi tiến hành nội soi bác sĩ đều hỏi các triệu chứng của người bệnh gặp phải trong khoảng thời gian gần nhất thì thấy bệnh nhân này chủ yếu là khó nuốt và rất khó mở rộng miệng. Với kinh nghiệm thăm khám, bác sĩ nhận thấy đây không phải là trường hợp khó nuốt thông thường. Khi khai thác kỹ tiền sử người bệnh cho biết, hơn 10 ngày trước có giẫm phải một chiếc đinh cũ, do chủ quan thấy vết thương nhỏ lành miệng sớm nên không để ý, khi bác sĩ gợi ý các câu hỏi mới nhớ ra. Sau khi thăm khám triệu chứng thực thể về dấu hiệu cứng hàm, bác sĩ nhận định người bệnh bị uốn ván – một căn bệnh nguy hiểm đang ở giai đoạn sớm ủ bệnh. Các bác sĩ quyết định dừng lại không thực hiện kỹ thuật nội soi để tránh tai biến khi ống soi đi qua những vùng cơ bị co thắt sẽ gây nguy hiểm cho người bệnh. Ngay sau đó bác sĩ chỉ định chuyển bệnh nhân sang khoa Cấp cứu để có hướng xử trí cấp cứu kịp thời đồng thời bệnh nhân được chuyển ngay ra Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương. Tại đây các bác sĩ cho biết nếu để chậm 1 đến 2 ngày thì nguy cơ tử vong của bệnh nhân là rất cao. Các bác sĩ thăm khám, điều trị cho bệnh nhân Những ngày đầu sau khi vào viện, bệnh nhân trong tình trạng nặng có nhiều cơn co giật, chân tay không cử động được, đại tiểu tiện qua sonde. Qua quá trình điều trị tích cực, đến nay bệnh nhân đã qua cơn hiểm nghèo, hết co giật, chân tay đã cử động được. Dự kiến, khoảng vài ngày nữa bệnh nhân có thể xuất viện được về nhà. Qua trường hợp bệnh nhân L., bác sĩ Thảo khuyến cáo, dù vết thương rất nhỏ như trầy xước da, đứt tay, côn trùng cắn, giẫm phải đinh... nhưng nếu chủ quan và xử lý ban đầu không tốt thì tỷ lệ nhiễm trùng do uốn ván rất cao.

Xem Thêm

DANH MỤC TIN
Từ 1/1/2021: "Chỉ thông tuyến tỉnh với người có thẻ BHYT điều trị nội trú…"
Thứ Hai 28/12/2020 08:24:49
"Nhiều người đang hiểu thông tuyến tỉnh là tất cả người bệnh được quỹ BHYT chi trả. Tôi xin khẳng định, quy định này chỉ dành cho người đến khám và được bác sĩ chỉ định nhập viện điều trị nội trú…". Từ 1/1/2021, thông tuyến tỉnh điều trị nội trú với người có thẻ BHYT. (Ảnh: Đỗ Linh). Ông Lê Văn Phúc - Trưởng Ban thực hiện chính sách bảo hiểm y tế (Bảo hiểm xã hội VN) - trao đổi thêm thông tin liên quan tới quy định thông tuyến tỉnh khám chữa bệnh nội trú theo thẻ BHYT, có hiệu lực từ ngày 1/1/2021.  Người có thẻ BHYT hưởng lợi gì? Theo ông Lê Văn Phúc, từ ngày 1/1/2021, việc mở thêm quy định thông tuyến tỉnh điều trị nội trú giúp cho người có thẻ BHYT chủ động lựa chọn, tiếp cận dịch vụ y tế phù hợp với tình trạng bệnh, đồng thời cũng là cơ hội để các tuyến y tế nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Những trường hợp người có thẻ BHYT phát sinh nhu cầu khám, điều trị tại bệnh viện tuyến tỉnh hoặc đang ở tỉnh xa nếu bị bệnh thì có thể đến các bệnh viện tuyến tỉnh và được BHYT chi trả 100% nếu điều trị nội trú, không phải trở về địa phương để khám chữa bệnh theo tuyến như trước kia.  Ông Lê Văn Phúc - Trưởng ban thực hiện chính sách BHYT(BHXH VN). (Ảnh: TL) "Do phạm vi lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh càng rộng, người bệnh có nhiều sự lựa chọn hơn và thúc đẩy các cơ sở y tế từ tuyến cơ sở đến tuyến tỉnh nâng cao chất lượng khám chữa bệnh để thu hút, tạo sự tin tưởng cho người bệnh" - ông Lê Văn Phúc giải thích thêm. Trong đó, các nhóm đối tượng được BHYT chi trả 100% chi phí khi đi khám chữa bệnh đúng tuyến, gồm: Người có công với cách mạng, người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng, người thuộc hộ gia đình nghèo, người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo; trẻ em dưới 6 tuổi… Trước đó, Luật BHYT năm 2014 đã quy định quy định thông tuyến huyện cho hoạt động khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT từ ngày 1/1/2016. Với quy định tại Khoản 6 Điều 22 Luật BHYT, từ ngày 1/1/2021, người tham gia BHYT khi đi khám chữa bệnh không đúng tuyến tại cơ sở khám chữa bệnh tuyến tỉnh sẽ được quỹ BHYT trả chi phí điều trị nội trú theo phạm vi quyền lợi và mức hưởng như trường hợp khám chữa bệnh đúng tuyến. Đại diện Ban thực hiện chính sách BHYT cho biết thêm: "Theo quy định hiện hành, Quỹ BHYT chỉ thanh toán 60% chi phí điều trị nội trú khi vượt tuyến. Sau ngày 1/1/2021, tùy từng nhóm đối tượng tham gia BHYT theo Luật BHYT quy định, người bệnh được thanh toán chi phí khám chữa bệnh với các mức 100%, 95% hoặc 80%".  "Xin được lưu ý, với quy định thông tuyến tỉnh từ năm 2021, Quỹ BHYT chỉ chi trả 100% chi phí theo phạm vi quyền lợi và mức hưởng cho các trường hợp người bệnh tự đi khám tại bệnh viện tuyến tỉnh và có chỉ định điều trị nội trú của bác sĩ. Trường hợp người dân tự đi khám ngoại trú, sẽ phải tự chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh" - Ông Lê Văn Phúc cho. Đồng thời, quy định thông tuyến tỉnh được áp dụng với tất cả các bệnh viện tuyến tỉnh và một số bệnh viện ngành. Các tuyến trung ương như bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức, Chợ Rẫy, Thống Nhất, Trung ương 108 không áp dụng. Áp lực cho quỹ BHYT và cơ sở khám chữa bệnh Dự báo của Ban thực hiện chính sách BHYT, sau khi thông tuyến tỉnh, chi phí khám chữa bệnh sẽ gia tăng lên con số không nhỏ. "Năm 2020, quỹ BHYT chi trả 60% chi phí điều trị nội trú cho hơn 1 triệu bệnh nhân vượt tuyến với số tiền khoảng 1.250 tỉ đồng. Nếu áp số lượng bệnh nhân trên với năm 2021, trong điều kiện trả toàn bộ chi phí điều trị nội trú, chi phí BHYT dự kiến tăng ít nhất 2.000 tỉ đồng…" - ông Lê Văn Phúc ước tính. Người dân tới khám chữa bệnh theo thẻ BHYT (Ảnh: TL) Đây cũng là thách thức lớn đối với việc quản lý quỹ BHYT. Bởi theo ông Lê Văn Phúc, quỹ dự phòng BHYT chỉ có thể đáp ứng chi trả đến hết năm 2021.  Vậy cần hạn chế những tác động không mong muốn ra sao với quỹ BHYT cũng như hạn chế tình trạng "dồn ứ" cho nhiều bệnh viện tuyến tỉnh? Theo ông Lê Văn Phúc, người dân cần hiểu rõ quy định của việc thông tuyến tỉnh chỉ dành cho điều trị nội trú. Theo thống kê của BHXH VN, tới cuối tháng 12/2020, cả nước có 88 triệu người tham gia BHYT, chiếm 90,85% dân số, vượt 0,15% chỉ tiêu Nghị quyết số 01 của Chính phủ, tăng 25,6% so với năm 2015. Trong khi đó, hệ thống y tế của Việt Nam đã được vận hành theo phân cấp: Trường hợp bệnh nhẹ, người bệnh sẽ được chuyển đến cơ sở y tế tuyến xã, huyện. Trường hợp mắc bệnh nặng hơn thì mới lên tuyến tỉnh hoặc Trung ương để điều trị. Những năm qua ngành y tế đã chú trọng nâng cấp hệ thống y tế cơ sở, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và năng lực chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. "Việc thông tuyến tỉnh đối với người bệnh nội trú là đã "khoanh vùng" những người bệnh nặng, phải điều trị dài ngày, chuyên sâu, cần chăm sóc nhiều hơn…" - ông Lê Văn Phúc cho biết. Liên quan tới hạn chế tình trạng "lạm dụng" chỉ định điều trị nội trú của bác sĩ, ông Lê Văn Phúc cho biết nếu không giám sát hiệu quả, các bệnh viện sẽ đối mặt với tình trạng quá tải khi bệnh nhân điều trị nội trú gia tăng trong khi các nguồn lực còn hạn chế. "Có thể xảy ra xu hướng chỉ định điều trị nội trú kể cả với bệnh nhân bệnh nhẹ, chưa thực sự cần thiết điều trị nội trú cũng nhập viện, dễ dẫn đến quá tải BV. Chưa kể bệnh nhân nội trú kèm theo vài người thăm nom, chăm sóc gây khó khăn cho sinh hoạt của bệnh viện…" - ông Lê Văn Phúc cho biết. Theo ông Lê Văn Phúc, Bộ Y tế đang hoàn tất quy định về chỉ định nhập viện điều trị nội trú để tránh tình trạng lạm dụng điều trị nội trú khi không cần thiết. Đồng thời, Bộ cũng yêu cầu các giám đốc sở Y tế các tỉnh, thành phố chỉ đạo các cơ sở khám chữa bệnh tuyến tỉnh tăng cường công tác quản lý chất lượng dịch vụ theo đúng hướng dẫn tại Thông tư số 19/2013/TT-BYT về thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện… Nguồn: dantri.com.vn