Chế độ dinh dưỡng cho người bị nhiễm Covid-19(F0) điều trị tại nhà
Thứ Sáu 21/01/2022 09:39:14
Để hạn chế diễn biến nặng, nguy kịch người bệnh cần được theo dõi thường xuyên và thực hiện chế độ dinh dưỡng đầy đủ. Những trường hợp người bệnh nhiễm COVID-19 không có triệu chứng hoặc thể nhẹ điều trị tại nhà, việc thực hiện, tuân thủ chế độ dinh dưỡng thật sự cần thiết, dinh dưỡng giúp hỗ trợ và cải thiện "hàng rào" bảo vệ cơ thể như tế bào miễn dịch, các kháng thể, da, niêm mạc hô hấp, niêm mạc dạ dày làm tăng sức đề kháng. Khi bị nhiễm, người bệnh thường có dấu hiệu đột ngột bị mất vị giác hoặc khứu giác, làm giảm khả năng ăn uống do vậy cần bổ sung chế độ dinh dưỡng hợp lý để tránh thiếu hụt về dinh dưỡng dẫn tới suy dinh dưỡng. Người bệnh nhiễm COVID-19 đều tăng nhu cầu dinh dưỡng do tăng tiêu hao năng lượng, nếu không bổ sung dinh dưỡng đầy đủ đúng cách người bệnh sẽ suy dinh dưỡng nặng. Suy dinh dưỡng làm tăng nguy cơ bội nhiễm, bệnh trở nặng, kéo dài thời gian thở máy, tăng chi phí điều trị. Vì vậy, việc cung cấp dinh dưỡng cho người bệnh nhiễm COVID-19 nhẹ và không có triệu chứng tại nhà là rất cần thiết, giúp nâng cao thể trạng, tăng cường miễn dịch và hạn chế biến chứng. Chăm sóc F0 tại nhà cần ăn uống như thế nào để vượt qua bệnh COVID-19? F0 được chia làm 3 loại: – Không triệu chứng: Ở một mình trong phòng cho tới khi âm tính. Sinh hoạt bình thường, ăn uống bình thường, tập thể dục và tập thở vừa, theo dõi triệu chứng trở nặng. – Có triệu chứng nhẹ và trung bình: Nằm nghỉ, ăn nhẹ dễ tiêu ít đạm ít béo, không tập thể dục, tập thở rất nhẹ, ngủ nhiều nhất có thể. – Triệu chứng nặng và rất nặng: Gọi điện thoại cho nhân viên y tế gần nhất, nằm đầu cao, hạn chế cử động mạnh, hít thở rất nhẹ nhàng, húp nước cháo loãng. Cần uống đủ nước và đảm bảo dinh dưỡng – Nước và dinh dưỡng là vô cùng quan trọng với F0. Uống nước ấm nhiều lần trong ngày, uống vài ngụm mỗi 10 phút sẽ tốt hơn uống đầy bụng. Ngày tối thiểu 2 lít nước, nếu có sốt thì cứ tăng 1 độ cộng thêm 200ml (500ml nếu nhiệt độ môi trường cao, trời nóng). Nhiệt độ nước tốt nhất là khoảng 35 độ C (1 sôi 2 nguội). Không uống các loại nước gây kích thích thần kinh như trà, cà phê… Nước chanh gừng sả quất… chủ yếu là giúp tăng thông thoáng đường hô hấp, nhưng nếu uống với liều cao và trên những cơ địa nhạy cảm, có khi còn làm tăng nguy cơ kích thích đường ruột, thần kinh thực vật, gan thận… Nên nhớ, nước này không làm tăng khả năng sống sót với bệnh COVID-19. Vì vậy, nước tốt nhất chính là nước lọc ấm. – Chế độ ăn cho F0 rất quan trọng ở giai đoạn này, người bệnh cần ăn cháo loãng, nấu chín kỹ và mềm nhừ để có thể húp, nuốt mà không cần nhai. Món ăn thích hợp là cháo đậu xanh giữ nguyên vỏ. Vì món cháo này phải đảm bảo cung cấp năng lượng nhanh và sạch cho các tế bào. Không tạo ra thêm chất chuyển hoá làm cơ thể ứ đọng chất độc. Tiêu hoá dễ dàng, hấp thu dễ dàng không làm hệ tiêu hoá gắng sức. Cung cấp các chất vi lượng rất ít dự trữ trong cơ thể (vitamin nhóm B, C). Nguyên tắc chế độ dinh dưỡng cho người trưởng thành Năng lượng 30- 35 kcal/kg cân nặng/ngày, chất đạm 15-20% tổng năng lượng, nhu cầu chất béo 20-25% tổng năng lượng, chất đường bột 50 -65% tổng năng lượng. Cung cấp đầy đủ vitamin và khoáng chất theo lứa tuổi. Đặc biệt tăng cường các thực phẩm giàu vitamin A, C, D, E; các thực phẩm giàu kẽm và selen. Rau xanh 300g/ngày, hoa quả 200g/ngày. Chất xơ cung cấp 18-20g/ ngày. Muối 5g/ngày. Uống nhiều nước (40-45ml/kg cân nặng/ngày), nên uống nước ấm và rải rác trong ngày, tránh tình trạng chỉ uống khi thấy khát, nên uống nước lọc, nước ép hoa quả. Người bệnh có sốt nên uống Orezol để bù nước và điện giải. Nguyên tắc dinh dưỡng đối với trẻ em Định kỳ theo dõi tình trạng dinh dưỡng của trẻ bằng cân nặng và lượng thức ăn trẻ ăn vào. Chế độ ăn cân đối hàng ngày với 4 yếu tố chính: lipid (lipid động vật và lipid thực vật), vitamin và khoáng chất, thành phần các chất sinh năng lượng (protein, lipid, carbohydrate), protein (protein động vật và thực vật). Trẻ phải ít nhất có 1 bữa ăn trong ngày có cân đối khẩu phần. Hàng ngày phải ăn ít nhất là 5 trong 8 nhóm thực phẩm (nhóm tinh bột, nhóm sữa và chế phẩm sữa, nhóm dầu mỡ, nhóm rau củ, nhóm thịt cá, nhóm trứng, nhóm các loại hạt, nhóm rau củ màu vàng-xanh thẫm). Hạn chế ăn quá nhiều đồ ngọt (khuyến nghị lượng đường <5% tổng năng lượng ăn vào). Hạn chế ăn quá mặn. Cung cấp đủ nước, đặc biệt nước trái cây tươi, tránh uống nước ngọt công nghiệp. Khuyến khích trẻ 1-2 tuổi sữa công thức tối thiểu 600ml/ngày (trẻ không có sữa mẹ) và trẻ >2 tuổi 500 ml/ngày sữa công thức theo tuổi/ngày đủ đáp ứng dinh dưỡng cho tăng trưởng và cân bằng dinh dưỡng (không cần bổ sung đa vi chất). Trường hợp trẻ kém ăn, ăn không đủ lượng theo khuyến nghị thì phải dùng công thức hỗ trợ dinh dưỡng đường uống có đậm độ năng lượng cao (1Kcal/ml) thay thế hoàn toàn hay một phần cho sữa công thức thông thường. Tránh thức ăn gây nôn và buồn nôn bằng những khẩu vị trẻ thích, thức ăn dễ tiêu hóa và có giá trị dinh dưỡng cao. Lưu ý: Cần ăn cháo loãng và ấm, không ăn lạnh, có thể nuốt dễ dàng mà không cần nhai. Không cần và không nên ăn nhiều thức ăn giàu đạm (thịt cá tôm cua…) trong thời gian bệnh nhân đang mệt, khó thở, ho nhiều… Chỉ ăn chút xíu để có vị đưa cháo cho đỡ ngán là chính. Đa số bệnh nhân mất khẩu vị, nên chỉ cần nấu cháo loãng để có thể nuốt dễ dàng không cần mùi vị đặc biệt gì. Ăn nhiều lần, mỗi 1-2 giờ cho húp nửa chén cháo nóng tốt hơn ăn 3 bữa/ngày. – Ngoài ra người bệnh ngủ càng nhiều càng tốt. Nếu không ngủ được thì nằm nghỉ. Người bệnh khi ngủ cần nằm đầu cao 45 độ (lót từ mông trở lên chứ không phải chỉ kê ngay cổ), ở nơi càng thoáng khí càng tốt như gần cửa sổ, lan can. Tư thế thở nằm xấp áp dụng nếu mệt nhiều hơn, khó thở nhiều hơn, hoặc khi ngủ không nằm đầu cao được: nằm nghiêng và úp chân từ hông xuống, đầu vẫn ở tư thế nằm nghiêng (giống ngủ ôm gối ôm).

Xem Thêm

Tại sao mùa đông trẻ em và người cao tuổi luôn lo lắng về sức khỏe?
Thứ Tư 12/01/2022 15:50:58
Mùa đông nhiệt độ xuống thấp hơn so với mức bình thường, người cao tuổi và trẻ nhỏ sức đề kháng yếu rất dễ bị mắc các bệnh về đường hô hấp, tim mạch, tiêu hóa, cơ xương khớp. Vì vậy, để phòng bệnh, vào mùa đông người cao tuổi và trẻ em là những đối tượng cần lưu ý về sức khỏe hơn. Những bệnh người già, trẻ em dễ mắc phải trong mùa đông Sốt Virus   Mùa đông nhiệt độ xuống thấp, trẻ em sức đề kháng yếu rất dễ bị sốt virus Trẻ em là đối tượng dễ bị sốt virus nhất đặc biệt vào mùa đông khi nhiệt độ xuống thấp, sức đề kháng của trẻ yếu, khi nhiệt độ môi trường xuống thấp, trẻ chưa kịp thích nghi , từ đó tạo điều kiện cho virus xâm nhập dẫn đến bị sốt.Vì vậy, trong những ngày thời tiết trở lạnh, các bậc phụ huynh cần lưu ý giữ ấm cho trẻ, cũng như bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng để tăng sức đề kháng cho con. Hen suyễn Mùa đông thời tiết giá rét, khô hanh, ngày có thể nắng nhưng đêm đến nhiệt độ hạ thấp, nhiều khi nhiệt độ chêch lệch giữa ngày và đêm lên đến cả chục độ. Một trong những yếu tố gây hen phế quản ở người cao tuổi là do nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp tính hoặc mạn tính, viêm xoang, viêm phế quản, giãn phế quản do lạnh đột ngột hoặc lạnh kéo dài nhất là khi người cao tuổi bị nhiễm lạnh. Vì vậy, trong những ngày nhiệt độ xuống thấp, gió rét người cao tuổi cần hạn chế ra đường và luôn luôn giữ ấm cơ thể tránh nhiễm lạnh. Viêm phổi Mùa đông nhiệt độ xuống thấp tạo môi trường thuận lợi để virus,  vi khuẩn phát triển gây nhiều bệnh liên quan đến đường hô hấp, người già và trẻ em sức đề kháng yếu nhất là vào mùa đông khiến virus gây bệnh dễ dàng xâm nhập vào cơ thể. Người cao tuổi có nguy cơ mắc viêm phổi cao do nhiệt độ môi trường xuống thấp Vì vậy, vào mùa đông người cao tuổi và trẻ em cần được giữ ấm đường thở bằng cách mặc ấm, giữ ấm cổ họng, đeo khẩu trang khi đi ra đường, đội mũ kín tai và sử dụng nước ấm. Việc giữ ấm cơ thể giúp giảm thiểu nguy cơ mắc viêm phổi ở người cao tuổi và trẻ nhỏ vào mùa đông. Bệnh Cúm Mùa đông nhiệt độ môi trường lạnh, độ ẩm trong không khí thấp tạo điều kiện thuận lợi cho virus cúm phát triển và gây bệnh. Đặc biệt là trẻ em, sức đề kháng yếu rất dễ mắc bệnh cúm vào mùa đông. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hàng năm có khoảng 1/3 số trẻ em trên toàn thế giới bị nhiễm cúm và đặc biệt trẻ em cũng được xếp vào nhóm có tỉ lệ tử vong cao do bệnh cúm. Bệnh không quá nguy hiểm nhưng ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ khiến trẻ mệt mỏi,  khó chịu. Để phòng tránh cảm cúm  cho trẻ vào mùa đông, cha mẹ cần giữ ấm bàn tay, bàn chân, ngực, đầu, cổ cho trẻ,  cho trẻ uống nước ấm và không cho ăn đồ lạnh; Cần giữ gìn vệ sinh sạch sẽ cho bé và môi trường xung quanh; Hạn chế cho trẻ tiếp xúc với nhiều người, nhất là những người bị cúm; Bổ sung những thực phẩm giàu protein, vitamin C từ hoa quả, rau xanh, uống nhiều nước. Với trẻ trên 6 tuổi cha mẹ cần tiêm phòng cúm cho trẻ hàng năm. Cách phòng bệnh và kiểm soát sức khỏe cho người già và trẻ em trong mùa đông Theo BSCKII Phí Thị Hải Anh – Trưởng khoa Khám bệnh chia sẻ: “Ngay từ đầu mùa đông, lượng bệnh nhân lớn tuổi và trẻ em gặp các bệnh lý liên quan đến đường hô hấp đến thăm khám tại khoa tăng nhiều hơn so với dịp mùa hè. Mùa đông thời tiết giá rét làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh, đặc biệt là đối với người già và trẻ em, sức đề kháng yếu. Ngoài mắc các bệnh lý thời tiết kế trên, người cao tuổi còn xuất hiện các bệnh lý mạn tính như: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (POCD), tiểu đường, mỡ máu, cao huyết áp,…Chính vì thế chủ động phòng tránh và kiểm soát bệnh lý theo mùa có ý nghĩa rất quan trọng để phòng bệnh hiệu quả”. BS Hải Anh cũng khuyến cáo đến người dân, đặc biệt là đối tượng người cao tuổi và trẻ nhỏ: “Để phòng bệnh trong mùa đông cho người cao tuổi và trẻ nhỏ, bên cạnh việc giữ ấm cơ thể, bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng, vitamin và luyện tập thể dục đều đặn, vừa sức giúp cho khí huyết lưu thông, tinh thần sảng khoái; củng cố và tăng cường sự hoạt động của hệ tim mạch, hô hấp; giảm đường huyết; giảm mỡ máu; ăn uống chóng tiêu và giúp cho cơ thể tăng khả năng chịu lạnh thì người cao tuổi cần theo dõi, kiểm soát sức khỏe định kỳ”. Để chăm sóc và phòng bệnh cho người cao tuổi và trẻ nhỏ, áp dụng chế độ dinh dưỡng đầy đủ rất quan trọng giúp tăng sức kháng cho cơ thể Để kiểm soát tốt bệnh lý mạn tính ở người già và bệnh lý cấp tính thường gặp ở trẻ nhỏ vào mùa đông người bệnh có thể thực hiện xét nghiệm định kỳ để kiểm tra sức khỏe.

Xem Thêm

Nguyên tắc điều trị và lưu ý khi dùng thuốc điều trị Covid-19 tại nhà
Thứ Hai 20/12/2021 11:17:27
Cùng với chiến dịch bao phủ vaccine và các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh, mô hình điều trị bệnh nhân COVID-19 nhẹ hoặc không triệu chứng tại nhà đang cho thấy là hướng đi phù hợp và đem lại hiệu quả khi các nước chuyển sang thích ứng an toàn, linh hoạt với dịch bệnh. *Nguyên tắc điều trị COVID-19  Không giống như bệnh lý do vi khuẩn gây ra đã có các kháng sinh để điều trị nguyên nhân, hầu hết bệnh lý do virus chưa có thuốc kháng virus đặc hiệu. Do đó, nguyên tắc chung trong điều trị COVID-19 tương tự như trị bệnh do virus khác, chính là tập trung vào điều trị triệu chứng, nâng cao thể trạng của bệnh nhân và phát hiện, xử trí kịp thời các trường hợp biến chứng của bệnh nhằm giảm tỉ lệ tử vong chung. Để đảm bảo thực thi các nguyên tắc này, việc phân tầng đúng nguy cơ cho người bệnh và giám sát chặt chẽ họ trong khoảng thời gian bệnh dễ diễn biến tăng nặng (từ ngày thứ 7 đến ngày thứ 10) đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Chỉ những người bệnh được đánh giá là có khả năng (hoặc có người hỗ trợ) chăm sóc bản thân, có thể tự dùng thuốc theo đơn của bác sĩ, biết cách liên lạc với nhân viên y tế để được theo dõi, không có bệnh nền, không thuộc đối tượng sinh lý đặc biệt (trẻ sơ sinh, người cao tuổi, phụ nữ mang thai) mới được cách ly, điều trị COVID-19 tại nhà.           - Trong quá trình điều trị, Người bệnh cần đăng kí trên app và cập nhật thường xuyên sức khỏe của mình và tuân thủ các hướng dẫn của nhân viên y tế. *Lưu ý khi dùng thuốc điều trị COVID-19 tại nhà Thuốc điều trị COVID-19 tại nhà bao gồm các thuốc điều trị triệu chứng, thuốc giúp nâng cao thể trạng, tăng cường miễn dịch, thuốc phòng và điều trị biến chứng. Trong đó, một số thuốc điều trị COVID-19 cần được dùng đúng thời điểm, dưới sự giám sát chặt chẽ của nhân viên y tế, tránh lạm dụng gây ảnh hưởng đến quá trình hồi phục và điều trị về sau. +Thuốc không cần kê đơn - Thuốc giảm đau, hạ sốt: Thuốc chứa dược chất paracetamol 500 mg thường dùng khi bệnh nhân có triệu chứng ho, sốt trên 38,5oC, đau đầu hoặc đau nhức mình mẩy. Liều dùng cho người lớn là 01 viên 500mg/ lần, trẻ em mỗi lần 10- 15mg/ kg cân nặng, nên mua thuốc liều lượng thích hợp dành cho trẻ nhỏ. Uống lặp lại mỗi 04 đến 06 giờ nếu còn triệu chứng.  Không nên lấy thuốc viên nén paracetamol dành cho người lớn và bẻ nhỏ 1/2, 1/3, 1/4… viên để dùng cho trẻ.Làm như thế sẽ không đúng liều và dùng thuốc viên thì rất khó cho trẻ uống.Hãy dùng thuốc paracetamol dạng lỏng, hoặc hoặc đọc kỹ bản hướng dẫn sử dụng thuốc để tính và dùng thật đúng liều cho trẻ. Chỉ dùng thuốc paracetamol trong một thời gian thường 3-4 ngày, nếu sốt tái diễn hoặc tăng thêm, cần đi khám bác sĩ hoặc đến cơ sở y tế để được chẩn đoán và cho hướng điều trị thích hợp. - Thuốc bù điện giải: Oresol sử dụng để bù nước, chất điện giải khi bệnh nhân sốt cao, tiêu chảy và nên được chỉ định sớm cho bệnh nhân điều trị COVID-19 nhằm chống cô đặc máu. Pha đúng tỉ lệ theo hướng dẫn ghi trên nhãn thuốc, người lớn uống theo nhu cầu, trẻ em dưới 5 tuổi uống từng thìa nhỏ dưới sự giám sát của người lớn. - Thuốc nâng cao thể trạng, tăng cường miễn dịch: Các loại vitamin tổng hợp hoặc vitamin nhóm B, vitamin C, vi chất dinh dưỡng. Uống theo liều ghi trên nhãn hoặc hướng dẫn sử dụng. +Thuốc cần kê đơn Những thuốc sau đây có thể được kê đơn cho bệnh nhân điều trị COVID-19 để điều trị triệu chứng và biến chứng kèm theo. Cần liên hệ với bác sĩ hoặc nhân viên y tế để được kê đơn và hướng dẫn cách dùng, liều dùng phù hợp. - Thuốc chống viêm ức chế miễn dịch corticoid: Gồm Dexamethasone, methylprednisolone, prednisolone… Đây là nhóm thuốc chống viêm, ức chế miễn dịch mạnh do đó không dùng điều trị COVID-19 thể nhẹ ở giai đoạn sớm. Vì khi cơ thể nhiễm virus thì hệ miễn dịch sẽ được kích hoạt để bảo vệ cơ thể thông qua cơ chế vây bắt và tiêu diệt virus.Nếu dùng corticoid sớm sẽ gây ảnh hưởng đến khả năng tự đào thải virus của hệ miễn dịch, dẫn tới thời gian điều trị kéo dài hoặc tăng tỉ lệ gặp biến chứng nặng.Chỉ tới khi phản ứng miễn dịch của cơ thể quá mức gây bão cytokine gây tổn thương phổi cũng như các cơ quan khác và ảnh hưởng đến chức năng sống của bệnh nhân, corticoid mới được chỉ định. - Thuốc chống đông máu: Rivaroxaban, Apixaban được sử dụng điều trị COVID-19 khi bệnh nhân có nguy cơ tăng đông máu gây tắc mạch. - Thuốc kháng virus: Hiện đang trong quá trình thử nghiệm, chỉ dùng cho một số đối tượng dưới sự giám sát chặt của cán bộ y tế, chưa có thuốc nào chứng minh được hiệu quả rõ rệt trên bệnh nhân COVID-19. - Kháng sinh: Kháng sinh không có tác dụng với virus nên chỉ được chỉ định trong những trường hợp có dấu hiệu bội nhiễm, nhiễm trùng cơ hội. - Thuốc điều trị mất ngủ, ho, nghẹt mũi, thuốc trị ngứa da, ban da…: Dùng theo chỉ định của bác sĩ hoặc nhân viên y tế để tránh ảnh hưởng tới quá trình phục hồi hoặc điều trị. Những lưu ý khi bệnh nhân điều trị COVID-19 tại nhà Duy trì "5K: Khẩu trang- Khử khuẩn- Khoảng cách- Không tập trung- Khai báo y tế" theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Chuẩn bị vật dụng hỗ trợ theo dõi: Nhiệt kế theo dõi nhiệt độ, máy đo phân áp oxy, máy đo huyết áp. Lưu sẵn các số điện thoại cần phòng khi có tình huống khẩn cấp: Số điện thoại cấp cứu, nhân viên y tế phụ trách địa bàn bệnh nhân sinh sống, nhân viên y tế trong các hội nhóm thiện nguyện. Theo dõi hàng ngày các triệu chứng: Mệt mỏi; ho, ho có đàm, ho ra máu; ớn lạnh/ gai rét; viêm kết mạc (mắt đỏ); mất vị giác hoặc khứu giác, tiêu chảy. Thở dốc hoặc khó thở, đau tức ngực kéo dài, lơ mơ, không tỉnh táo.Đau họng, nhức đầu, chóng mặt, chán ăn, buồn nôn và nôn, đau nhức cơ. Không dùng thuốc điều trị triệu chứng khi không có triệu chứng. Thận trọng trong sử dụng thuốc. Không dùng cùng lúc nhiều đơn thuốc, đặc biệt chú ý các biệt dược có cùng một hoạt chất để tránh uống quá liều gây ngộ độc (như các biệt dược cùng chứa paracetamol, các loại thuốc đều là vitamin tổng hợp…). Thuốc cần kê đơn phải dùng dưới sự hướng dẫn của nhân viên y tế. Những lưu ý khi bệnh nhân điều trị COVID-19 biểu hiện tăng nặng của các triệu chứng: 8 dấu hiệu sau đây phải báo ngay với nhân viên y tế: - Khó thở, thở hụt hơi, hoặc ở trẻ em có dấu hiệu thở bất thường: thở rên, rút lõm lồng ngực, phập phồng cánh mũi, khò khè, thở rít thì hít vào. - Nhịp thở tăng: Người lớn nhịp thở >21 lần/phút; Trẻ từ đến dưới 5 tuổi nhịp thở: ≥40 lần/phút; Trẻ từ 5- dưới 12 tuổi: nhịp thở ≥ 30 lần/phút. - SpO2 < 96%; mạch nhanh > 120 nhịp/phút hoặc dưới 50 lần/phút; Huyết áp thấp: huyết áp tối đa < 90 mmHg, huyết áp tối thiểu < 60 mmHg. - Đau tức ngực thường xuyên, cảm giác bó thắt ngực, đau tăng khi hít sâu. - Thay đổi ý thức: Lú lẫn, ngủ rũ, lơ mơ, rất mệt/mệt lả, trẻ quấy khóc, li bì khó đánh thức, co giật. - Tím môi, tím đầu móng tay, móng chân, da xanh, môi nhợt, lạnh đầu ngón tay, ngón chân. - Không thể uống. Trẻ em bú kém/giảm, ăn kém, nôn. - Trẻ có biểu hiện: Sốt cao, đỏ mắt, môi đỏ, lưỡi đỏ, ngón tay chân sưng phù nổi ban đỏ, nốt hoặc mảng xuất huyết...

Xem Thêm

Cảnh báo nguy cơ đột quỵ khi thời tiết chuyển lạnh
Thứ Hai 20/12/2021 11:11:08
Thời tiết thay đổi, lạnh đột ngột làm cho các mạch máu co lại, dẫn tới tăng huyết áp, gây xuất huyết não. Nhiều người trời lạnh thường ít vận động, dẫn tới tăng cân cũng là yếu tố làm tăng huyết áp và nguy cơ đột quỵ.         Đột quỵ (còn gọi là tai biến mạch máu não, xuất huyết não) xảy ra khi lượng máu cung cấp cho một phần của não bộ đột nhiên bị chặn lại hoặc khi có một mạch máu trong não bộ bị vỡ khiến máu tràn vào những khoảng không xung quanh các tế bào não. Đột quỵ là căn bệnh thường xảy ra ở người già. Tuy nhiên những năm gần đây, số người trẻ bị đột quỵ có xu hướng tăng do lối sống không lành mạnh như nghiện thuốc lá, rượu bia, chế độ ăn uống thiếu khoa học, cuộc sống hiện đại với nhiều căng thẳng, kèm theo lối sống ít vận động khiến người trẻ tuổi dễ mắc các bệnh về chuyển hóa như béo phì, tiểu đường, cholesterol trong máu tăng cao… Triệu chứng của đột quỵ           Những triệu chứng của đột quỵ rất dễ phát hiện, bao gồm: đột nhiên bị tê liệt hoặc đuối sức, đặc biệt là ở một nửa cơ thể; đột nhiên khó phát âm hoặc đầu óc lẫn lộn không hiểu được người khác nói; đột nhiên một mắt nhìn không rõ; đột nhiên đi loạng choạng, chóng mặt hoặc mất thăng bằng hoặc không phối hợp được hoạt động; hoặc đột nhiên đau đầu trầm trọng mà không rõ nguyên nhân. Vì sao mùa đông dễ bị đột quỵ?           Mùa đông, thời tiết lạnh khiến tình trạng bệnh cao huyết áp chuyển biến xấu hơn, nhiều khả năng dẫn tới suy tim hoặc đột quỵ. Vào mùa lạnh, cơ thể tăng tiết các catecholamine trong máu dẫn đến co mạch ngoại biên. Mạch máu ở một số vùng co lại sẽ đẩy máu ra những khu vực ít chịu ảnh hưởng hơn, gây giãn mạch thụ động ở những nơi đó (như mạch não, mạch phổi), do đó, dễ gây các biến chứng đứt mạch não hoặc phù phổi cấp. Ngoài ra, thời tiết lạnh cũng làm tăng số lượng tiểu cầu, hồng cầu và độ nhớt của máu, làm tăng nguy cơ bệnh động mạch vành, tai biến mạch máu não và bệnh mạch máu ngoại vi. Đặc biệt, ở người già, khả năng miễn dịch và tính chịu đựng cơ thể kém, mạch máu giảm tính đàn hồi, trở nên cứng hơn, máu tăng độ quánh do tăng cholesterol, giảm enzyme tiêu hủy sợi huyết, lòng mạch bị thu hẹp, máu hay bị kết vón, lưu lượng máu qua não giảm đến 1/5 so với thông thường, dự trữ chức năng không còn nhiều nên rất khó thích nghi với những thay đổi bất thường của thời tiết. Đặc biệt, với những người có tiền sử huyết áp cao, thành mạch máu thoái hóa dày lên, sẽ ảnh hưởng tới tuần hoàn não. Khi gặp thay đổi đột ngột từ bên ngoài, những động mạch đưa máu lên não bị tắc nghẽn, não sẽ bị thiếu chất dinh dưỡng và oxy, dẫn đến đột quỵ và tử vong. Sự thay đổi lớn về nhiệt độ, từ ấm sang lạnh, làm tăng huyết áp, khiến mạch máu bị thắt lại. Mạch máu khi bị biến dạng sẽ dễ dẫn tới tình trạng phình động mạch chủ, gây đột quỵ. Thêm vào đó, vào mùa đông, số người uống rượu càng nhiều do lầm tưởng uống rượu sẽ giúp cơ thể ấm áp. Chất cồn lưu lại trong máu lâu do khả năng bài tiết qua đường mồ hôi giảm, dẫn tới tăng huyết áp, nhịp tim, tăng lưu lượng máu và làm giảm độ kết dính của máu. Khi đó, chỉ cần xuất huyết nhẹ là đủ dẫn tới tai biến. Phòng bệnh đột quỵ khi mùa đông đến như thế nào? Để dự phòng bệnh đột quỵ trong mùa đông cần đặc biệt lưu ý có chế độ sinh hoạt hợp lý. Hơn nữa, việc hạn chế mỡ động vật, tránh rượu, thuốc lá; giữ đủ ấm, tránh những đợt gió lạnh bất thường ùa vào khi cửa mở, sống thư thái, tránh căng thẳng, ngăn ngừa stress… sẽ giúp cơ thể chúng ta, nhất là người cao tuổi thích ứng tốt hơn với môi trường sống, tránh được tai biến mạch máu não. Ngoài ra, chúng ta cần: – Hỗ trợ điều trị tốt bệnh huyết áp cao (nguyên nhân chính gây đứt mạch máu não). – Phòng và hỗ trợ  điều trị tiểu đường (yếu tố nguy cơ gây mảng xơ vữa động mạch lớn, dẫn đến thiếu máu ở não). – Khắc phục tình trạng tăng cholesterol máu cùng với triglyceride máu. – Phòng và trị bệnh đa hồng cầu (có thể gây cơn thiếu máu não hay nhũn não). – Nên ăn nhiều rau củ quả; hạn chế muối; đời sống tình cảm tâm lý ổn định, tránh những xúc động hay chấn thương quá mức. – Thay đổi nếp sống tĩnh tại, ít vận động; tăng cường tập thể dục, vận động vừa sức sao cho phù hợp với tình hình sức khỏe. – Kiểm tra sức khỏe định kỳ thường xuyên, đặc biệt là kiểm soát tốt huyết áp và đường huyết. Hiện nay, mỗi năm khoa Cấp cứu bệnh viện đa khoa Hà Đông cấp cứu khoảng 1.000 bệnh nhân đột quị não cấp, con số ngày càng tăng và trẻ hóa. BSCKII Nguyễn Thành Trung – Trưởng khoa Cấp cứu khuyến cáo người dân: khi phát hiện bản thân hoặc người nhà có các triệu chứng của đột quỵ như yếu liệt nửa người, méo miệng đột ngột hoặc nói đớ, nói không rõ chữ…, ngay lập tức, hãy liên hệ đến cơ sở y tế gần nhất để được hướng dẫn cách xử trí kịp thời và điều trị hiệu quả nhất. “Thời gian vàng” để điều trị tái tưới máu cho những bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não cấp là trong vòng 6 giờ ngay sau khi khởi phát đột quỵ (bao gồm dùng thuốc tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch và lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học).

Xem Thêm

Đái tháo đường - Bệnh lý nguy hiểm cần quan tâm
Thứ Tư 15/12/2021 10:41:02
Trong những năm gần đây, số bệnh nhân đái tháo đường đang có xu hướng gia tăng nhanh với nhiều biến chứng nặng nề như biến chứng tim mạch, thận, mắt, thần kinh… trở thành nỗi lo ngại hàng đầu của toàn xã hội. Việc trang bị những hiểu biết về triệu chứng bệnh đái tháo đường sẽ giúp phát hiện sớm, điều trị hiệu quả bệnh ngay từ giai đoạn đầu. Bệnh đái tháo đường là gì? Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng đường máu do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng đường máu mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa về đường, đạm, mỡ, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh. Dự đoán vào năm 2045, cứ 10 người lớn sẽ có 1 người mắc bệnh đái tháo đường. Tuy nhiên, gần một nửa số người đang sống với bệnh (độ tuổi 20-79) không được chẩn đoán (46,5%), tỷ lệ này ở khu vực Tây Thái Bình Dương là 52.1%. Ước tính hơn 4 triệu người trong độ tuổi từ 20-79 đã tử vong vì các nguyên nhân liên quan đến đái tháo đường trong năm 2019. Bệnh gây nên nhiều biến chứng nguy hiểm, là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tim mạch, mù lòa, suy thận, và cắt cụt chi.Tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông, hiện đã và đang điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường và các biến chứng liên quan đến căn bệnh đái tháo đường. Các loại đái tháo đường thường gặp Bệnh đái tháo đường gồm 2 thể chính là: đái tháo đường típ 1, đái tháo đường típ 2. Ngoài ra còn có đái tháo đường thai kỳ, tiền đái tháo đường, đái tháo đường thứ phát và thể bệnh chuyên biệt của đái tháo đường. Đái tháo đường Típ 1 Tế bào β của tuyến tụy bị phá hủy do nguyên nhân tự miễn hoặc không rõ nguyên nhân, gây nên thiếu insulin tuyệt đối. Tỷ lệ mắc bệnh típ 1 chiếm từ 5 – 10% tổng số người mắc bệnh. Bệnh thường xảy ra ở người dưới 20 tuổi, bệnh tiến triển nhanh nếu không kịp thời chữa trị.  Đái tháo đường Típ 2 Do tế bào của cơ thể kháng với insulin, dẫn đến thiếu insulin tương đối (tức là insulin vẫn tiết ra với số lượng bình thường nhưng thiếu so với đòi hỏi của cơ thể). Bệnh này chiếm tỷ lệ cao khoảng 90 – 95% người bệnh, phổ biến gặp ở người trên 40 tuổi. Tuy nhiên hiện nay số ca mắc có xu hướng trẻ hóa, xuất hiện nhiều người mắc ở tuổi 30 và thanh niên.  Đái tháo đường thai kỳ Đái tháo đường khi mang thai là tình trạng rối loạn đường huyết. Đa phần đái tháo đường thai kỳ xảy ra ở phụ nữ mang thai ở tuần 24-28. Triệu chứng của đái tháo đường Các triệu chứng đái tháo đường sau đây là điển hình. Tuy nhiên, một số người đái tháo đường típ 2 có các triệu chứng nhẹ nên người bệnh không nhận biết được. – Thường xuyên cảm thấy mệt mỏi – Đi tiểu thường xuyên – Cảm thấy rất khát – Cảm thấy rất đói – ngay cả khi đang ăn – Nhìn mờ – Chậm lành các vết thương hoặc vết loét: – Giảm cân – ngay cả khi đang ăn nhiều hơn (đái tháo đường típ 1) – Ngứa ran, đau, hoặc tê ở tay hoặc chân (đái tháo đường típ 2) Biến chứng của đái tháo đường Bệnh tim mạch: ảnh hưởng đến tim và mạch máu và có thể gây ra các biến chứng gây tử vong như bệnh động mạch vành (dẫn đến nhồi máu cơ tim) và đột quỵ. Bệnh thận (bệnh thận đái tháo đường): gây ra do tổn thương các mạch máu nhỏ ở thận dẫn đến thận hoạt động kém hiệu quả hoặc suy thận. Bệnh thận phổ biến ở những người đái tháo đường hơn những người không mắc đái tháo đường. Bệnh thần kinh (bệnh thần kinh do đái tháo đường): đái tháo đường có thể gây tổn thương thần kinh khắp cơ thể khi glucose máu và huyết áp quá cao. Điều này có thể dẫn đến các vấn đề về tiêu hóa, rối loạn cương dương, và nhiều chức năng khác. Trong các khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất là các chi, đặc biệt là bàn chân. Tổn thương thần kinh ở những vùng này được gọi là bệnh lý thần kinh ngoại biên và có thể dẫn đến đau, ngứa ran và mất cảm giác. Mất cảm giác là dấu hiệu đặc biệt quan trọng vì nó có thể cho phép chấn thương không được chú ý, dẫn đến nhiễm trùng nghiêm trọng và có thể phải cắt cụt chi. Bệnh về mắt (bệnh võng mạc do đái tháo đường): hầu hết những người mắc đái tháo đường sẽ phát triển một số loại bệnh về mắt (bệnh võng mạc) làm giảm thị lực hoặc mù lòa. Các biến chứng trong thời kỳ mang thai: Phụ nữ mắc đái tháo đường trong suốt thời kỳ mang thai nguy cơ có một số biến chứng nếu họ không theo dõi cẩn thận và kiểm soát tình trạng bệnh. Đường máu cao trong thời kỳ mang thai có thể dẫn đến thai nhi bị quá cân. Điều này có thể dẫn đến các vấn đề về sinh nở, chấn thương cho trẻ và mẹ, và đột ngột giảm glucose máu ở trẻ sau sinh. Trẻ bị phơi nhiễm trong thời gian dài với đường máu cao trong tử cung có nguy cơ mắc đái tháo đường cao hơn trong tương lai. Chẩn đoán đái tháo đường Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường( Bộ Y Tế Việt Nam - năm2020) dựa vào 1 trong 4 tiêu chí sau đây: Glucose huyết tương lúc đói ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L) hoặc: Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp với 75g glucose bằng đường uống ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L) HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol). Xét nghiệm HbA1c phải được thực hiện bằng phương pháp đã chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế. BN có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc của cơn tăng glucose huyết cấp kèm mức glucose huyết tương bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L). Chẩn đoán xác định nếu có 2 kết quả trên ngưỡng chẩn đoán trong cùng 1 mẫu máu xét nghiệm hoặc ở 2 thời điểm khác nhau đối với tiêu chí a, b, hoặc c; riêng tiêu  d chí chỉ cần xét nghiệm duy nhất 1 lần. Điều trị bệnh đái tháo đường Hiện nay có rất nhiều phương pháp điều trị bệnh đái tháo đường. Trong đó, việc điều chỉnh chế độ ăn uống hàng ngày cùng với thiết lập chế độ thể dục thể thao hợp lý kết hợp theo dõi tình trạng bệnh lý thường xuyên là những việc làm quan trọng nhất  dù ở thể bệnh nào. Đái tháo đường típ 1: bệnh nhân được chỉ định dùng insulin trong suốt quãng đời còn lại vì cơ thể đã không còn khả năng tự sản xuất insulin. Đái tháo đường típ 2:có thể dùng 1 hay nhiều loại thuốc uống phối hợp nhau  hoặc phối hợp thuốc uống với thuốc tiêm(insulin, GLP1), hoặc chỉ dung thuốc tiêm tùy theo điều kiện và tình trạng của mỗi người bệnh cụ thể mà bác sỹ kê đơn. Để hạn chế tiến triển nặng của bệnh, người bệnh đái tháo đường cần có chế độ ăn và sinh hoạt phù hợp với điều kiện của mình, điều trị liên tục, không tự ý bỏ thuốcvà tự ý điều chỉnh thuốc(chỉ tạm dừng hoặc bỏ thuốc khi đã được khám và tư vấn của bác sỹ chuyên khoa nội tiết trong 1 số trường hợp). Cần lưu ý rằng, bệnh đái tháo đường có thể thay đổi và tiến triển khác nhau ở từng giai đoạn, do đó người bệnh cần được thăm khám, đánh giá chính xác tình trạng hiện tại để có kế hoạch điều trị thích hợp và hiệu quả. Tóm lại, người bệnh cần phải khám định kỳ và tuân thủ đúng chỉ định điều trị của bác sĩ. Phòng bệnh đái tháo đường Hiện nay, chưa thể phòng ngừa được đái tháo đường típ 1. Nhiều yếu tố liên quan đến môi trường, độc chất hay virus được cho rằng có khả năng kích hoạt quá trình tự miễn mà thông qua đó cơ thể bạn tự sản xuất ra kháng thể chống lại tuyến tụy. Tế bào beta ở tuyến tụy là nơi sản xuất ra insulin, hormone đóng vai trò chính yếu trong việc kiểm soát đường huyết của bạn. Do đó, khi tuyến tụy bị phá hủy, đặc biệt là tế bào beta tụy không còn nguyên vẹn, bệnh đái tháo đường sẽ xuất hiện. Tuy nhiên, những yếu tố kích hoạt nói trên vẫn đang trong quá trình khảo sát và chưa có biện pháp ngăn ngừa đái tháo đường típ 1 nào được chứng minh hiệu quả. Vì vậy, các chương trình dự phòng mà bác sĩ đề cập với bạn đều nhằm mục đích hạn chế hoặc làm chậm diễn tiến xuất hiện đái tháo đường típ 2 hoặc làm chậm sự tiến triển của các biến chứng và giảm nguy cơ xảy ra các biến chứng do đái tháo đường. Chế độ ăn uống: Chế độ ăn uống đóng vai trò cực kỳ quan trọng, giúp bệnh nhân đái tháo đường kiểm soát được bệnh. Nguyên tắc cơ bản trong chế độ ăn của bệnh đái tháo đường: đảm bảo cung cấp đủ dinh dưỡng, không làm tăng đường huyết nhiều sau ăn, không làm hạ đường huyết xa bữa ăn nhằm duy trì hoạt động thể lực bình thường và duy trì cân nặng hợp lý, bỏ thói quen hút thuốc lá, uống rượu bia.   Chế độ ăn uống đóng vai trò cực kỳ quan trọng, giúp BN tiểu đường kiểm soát bệnh Thiết kế bữa ăn đơn giản, không quá đắt tiền và phù hợp với tập quán địa phương. Cân bằng tỷ lệ đường( ngũ cốc: gạo , ngô, khoai, sắn,…), đạm và chất béo; bổ sung những loại thực phẩm giàu dinh dưỡng, ít chất béo và calo như rau củ, trái cây, các loại ngũ cốc nguyên hạt; theo dõi đường huyết sau bữa ăn… Bệnh nhân có thể tham khảo ý kiến của bác sĩ hoặc các chuyên gia dinh dưỡng để được hướng dẫn chế độ ăn uống thích hợp. Vận động: Việc vận động không chỉ giúp giảm chỉ số đường huyết, duy trì cân nặng ở mức ổn định mà còn giúp giảm nguy cơ bệnh tim mạch…Khuyến cáo bệnh nhân tiểu đường tập thể dục thể thao ít nhất 5 ngày mỗi tuần với thời gian tập 30 phút mỗi ngày, bệnh nhân có thể tham khảo ý kiến bác sĩ để được hướng dẫn bài tập phù hợp. Nên tập thể dục cùng với bạn bè, người thân để được giúp đỡ khi cần(trong khi tập thể dục có thể có những tai biến do hạ đường huyết, hoặc xuất hiện các biến chứng khác của đái tháo đường). Có thể vận động với loại hình mình yêu thích, phù hợp với tuổi tác và sức khỏe. Các môn thể dục thích hợp với người bệnh đái tháo đường là yoga, đi bộ, đạp xe, bơi lội, dưỡng sinh... Tập thói quen vận động nhẹ nhàng sau bữa ăn giúp hạ đường huyết. Không nên tập thể dục khi: Đường huyết < 70 mg/dl(<3,9 mmol/l) hoặc có triệu chứng hạ đường huyết Có ceton trong nước tiểu và đường huyết > 250 mg/dl (> 13,9 mmol/l) Không có ceton niệu trong nước tiểu nhưng có đường huyết > 400 mg/dl (> 22,2 mmol/l) đối với bệnh nhân đái tháo đường típ 2. Khi nghỉ mà có cơn đau thắt ngực.

Xem Thêm

Sốt xuất huyết ở trẻ em
Thứ Hai 06/12/2021 16:00:15
Bệnh sốt xuất huyết là gì? Bệnh sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm cấp tính, bệnh xảy ra quanh năm, nhưng thường gia tăng vào các tháng mùa mưa, Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, nếu ko được điều trị đúng cách sẽ để lại hậu quả nặng nề thậm chí có thể tử vong. Bệnh do virus Dengue gây ra. Bệnh lây truyền do muỗi vằn (Aedeses aegypti) sẽ truyền virus này từ người bệnh sang người khỏe, khiến cơ thể bị nhiễm bệnh. Hiện nay trên thế giới có 4 type virus Dengue gây bệnh cho người, đó là DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4.Một người khi mắc bệnh sốt xuất huyết thì có miễn dịch suốt đời đối với type virus dengue đã mắc, nhưng không có miễn dịch đối với các type virus dengue còn lại. Do đó, trên lý thuyết 1 người trong đời có thể bị sốt xuất huyết dengue 4 lần tương ứng với 4 type virus dengue khác nhau. BSCKII.Nguyễn Thị Thùy Dương – Trưởng khoa Nhi thăm khám cho bệnh nhi Dấu hiệu nhận biết. Bệnh diễn biến qua 3 giai đoạn bao gồm: Giai đoạn sốt, giai đoạn nguy hiểm và giai đoạn phục hồi. Giai đoạn sốt: Thường trong 3-4 ngày đầu của bệnh với những biểu hiện: Bệnh nhân xuất hiện sốt cao đột ngột 39-40 độ C, trước đó trẻ hoàn toàn khỏe mạnh. Mệt mỏi, đau đầu, đau nhức hốc mắt, đau các khớp, đau mỏi người, có thể có viêm long đường hô hấp trên. Chán ăn, cảm giác buồn nôn và nôn. Da xung huyết, có thể có biểu hiện những chấm xuất huyết dưới da. Vào thời điểm này, những triệu chứng của bệnh thường không đặc hiệu, không thể phân biệt với nhiễm các loại vi rút khác như cúm, sốt do covid… Giai đoạn nguy hiểm (hay gọi là giai đoạn xuất huyết): Thường vào ngày thứ 3 - 7 của bệnh. Biểu hiện sốt có thể giảm hoặc vẫn còn sốt, xuất hiện các dấu hiệu xuất huyết từ nhẹ đến nặng, có những biểu hiện xuất huyết rất đa dạng (do giảm tiểu cầu trong máu), là giai đoạn nhiều biến chứng xảy ra. Giai đoạn hồi phục: Bệnh nhân hết sốt trên 48 giờ, đỡ mệt, toàn trạngtốt lên, thèm ăn và tiểu tiện nhiều hơn, Xét nghiệm tiểu cầu bắt đầu tăng. Dấu hiệu nhận biết sốt xuất huyết ở trẻ em Xử trí trẻ bị sốt xuất huyết Hiện tại vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu dành cho bệnh sốt xuất huyết, phương pháp chủ yếu sử dụng là điều trị triệu chứng. Dùng thuốc hạ sốt khi sốt xuất huyết + Thuốc, hạ sốt thường được dùng để kiểm soát các triệu chứng đau nhức cơ và sốt cao (trên 38.5 độ C).  + Đồng thời, có thể kết hợp với các phương pháp hạ sốt vật lý như chườm mát ở vị trí nách, bẹn, các nếp gấp, còn lau toàn bộ cơ thể bằng nước ấm để hạ nhiệt. Lưu ý: Không được sử dụng aspirin, ibuprofen để điều trị sốt xuất huyết do thuốc làm trầm trọng thêm tình trạng chảy máu, tăng nguy cơ xuất huyết dạ dày, đe dọa đến tính mạng. Sốt là phản ứng tốt của cơ thể chống lại virus. Nhưng nhiều bệnh nhân có biểu hiện sốt cao lại tìm mọi cách hạ sốt cấp tốc về nhiệt độ bình thường, đặc biệt là trẻ em. Do đó, tình trạng lạm dụng paracetamol, dùng quá liều thuốc liên tục sẽ dẫn tới ngộ độc gan và làm giảm khả năng miễn dịch của cơ thể, kể cả khi dùng dạng thuốc đặt hậu môn ở trẻ em. Lời khuyên là bệnh nhân cần tuyệt đối tuân thủ hướng dẫn của bác sĩ, dùng thuốc hạ thuốc đúng liều theo đơn, thường uống 4-5 lần/ngày, mỗi 4-6 giờ. Ngoài ra, nhiều người cứ thấy sốt là tự ý mua thuốc kháng sinh sử dụng, nhưng đối với bệnh sốt do virus gây ra như sốt xuất huyết, dùng kháng sinh không có ý nghĩa và không giúp lành bệnh. Bù dịch đúng cách - Một nhầm lẫn mà nhiều người mắc phải đó là tư duy sốt xuất huyết Dengue gây ra mất nước. Tuy nhiên, sự thật là đa phần bệnh nhân mắc sốt xuất huyết đủ hoặc thừa nước ngay từ lúc mới bắt đầu truyền dịch cấp cứu. - Tại sao phải bù dịch trong trường hợp sốc Dengue? Vì sốt xuất huyết gây thoát huyết tương do tăng tính thấm thành mạch, nếu thoát huyết tương nhiều sẽ dẫn đến tình trạnh sốc. Vì vậy, phải bù dịch ngay để tránh sự nguy hiểm có thể xảy ra cho người bệnh bằng đường uống và đường tĩnh mạch. Chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân sốt xuất huyết: - Nên: Ăn các loại thức ăn mềm, dễ tiêu, đầy đủ chất dinh dưỡng dạng lỏng như cháo, súp hoặc cơm nát, mỗi lần ăn một ít. Tăng cường uống nhiều nước, bù điện giải bằng dung dịch oresol hằng ngày. - Không nên: Ăn những loại thức ăn có nhiều dầu mỡ, gây khó tiêu, đầy bụng. Tránh các thức ăn, nước uống có màu đỏ sẫm: Huyết (heo, bò, gà…), củ dền, xá xị, socola… để hạn chế gây nhầm lẫn với xuất huyết tiêu hóa. Không uống rượu bia, chất kích thích. Theo dõi khi trẻ có những dấu hiệu cảnh báo cần nhập viện: Người bệnh thấy khó chịu hơn mặc dù sốt giảm hoặc hết sốt; Không ăn, uống được; Nôn ói nhiều; Đau bụng nhiều; Tay chân lạnh, ẩm; Mệt lả, bứt rứt; Chảy máu mũi, miệng hoặc xuất huyết âm đạo; Không tiểu trên 6 giờ; Biểu hiện hành vi thay đổi như lú lẫn, tăng kích thích, vật vã hoặc li bì. Khi có những triệu chứng trên, cần đến ngay cơ sở y tế để thăm khám và điều trị kịp thời, tránh được những hậu quả đáng tiếc.

Xem Thêm

Sốt xuất huyết bùng phát thời điểm giao mùa, người dân cần lưu ý
Thứ Hai 11/10/2021 09:59:59
Sốt xuất huyết được xếp vào nhóm bệnh truyền nhiễm cấp tính phức tạp, khả năng lây nhiễm nhanh trong cộng đồng, nếu không điều trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong. Tiết trời giao mùa kèm theo những đợt mưa ẩm là điều kiện thuận lợi để muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết phát triển. Chính vì vậy, song song với phòng chống dịch Covid-19, người dân cũng cần trang bị kiến thức và phòng chống các dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như sốt xuất huyết. Theo Bộ Y tế từ đầu năm đến ngày 19/9, cả nước ghi nhận 49.113 trường hợp mắc sốt xuất huyết, trong đó có 18 trường hợp tử vong tại 9 tỉnh, thành phố phía Nam. Riêng ở Hà Nội, từ đầu năm 2021 đến ngày 26/9 đã ghi nhận 1.031 ca mắc sốt xuất huyết, phân bố tại 27/30 quận, huyện, thị xã, chưa có ca tử vong.           Tính từ đầu mùa đến nay, Bệnh viện đa khoa Hà Đông cũng đã tiếp nhận và điều trị cho hơn 100 bệnh nhân bị sốt xuất huyết, hiện tại Khoa Nội tổng hợp vẫn đang điều trị cho 11 bệnh nhân sốt xuất huyết. Trường hợp bệnh nhân nam N V Đ (60 tuổi, Phú La, Hà Đông, Hà Nội) nhập viện trong tình trạng sốt nóng, đau mỏi người, đau đầu, nôn, họng xung huyết, xét nghiệm Dengue virus dương tính. Hay như trường hợp bệnh nhân N T N L (58 tuổi, Kiến Hưng – Hà Đông – Hà Nội) cũng nhập viện với biểu hiện tương tự, xét nghiệm Dengue virus dương tính.  Bác sĩ Dương Như Trường – Khoa Cấp cứu Bệnh viện đa khoa Hà Đông đang thăm khám cho bệnh nhân bị sốt xuất huyết Bác sĩ CKII Phạm Văn Cường – Trưởng khoa Nội Tổng hợp, Bệnh viện đa khoa Hà Đông cho biết: “Triệu chứng của sốt xuất huyết là sốt cao liên tục (39-40 độ C), kéo dài 2-7 ngày, kèm theo đau đầu dữ dội vùng trán, sau nhãn cầu, đau cơ và khớp, sưng hạch bạch huyết hoặc phát ban, xuất huyết dưới da kèm nôn dai dẳng, đau bụng, rối loạn tiêu hóa, chảy máu lợi hoặc chân răng…. Nếu không phát hiện và điều trị kịp thời, sốt xuất huyết có thể biến chứng nặng nề, nguy hiểm đến tính mạng như: tràn dịch màng phổi, viêm phổi, sốc do thoát huyết tương nặng, chảy máu nội tạng, chảy máu não, tổn thương các tạng, tổn thương gan, rối loạn đông máu…”          Bác sĩ CKII Phạm Văn Cường – Trưởng khoa Nội Tổng hợp, thăm khám cho bệnh nhân SXH đang điều trị tại Khoa Hiện nay, sốt xuất huyết chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và cũng chưa có vắc xin phòng bệnh. Do bệnh lây từ người sang người qua đường muỗi đốt nên biện pháp hiệu quả nhất để phòng bệnh là diệt muỗi và hạn chế môi trường sinh sống của muỗi. Theo khuyến cáo của bác sĩ Bệnh viện đa khoa Hà Đông, người dân cần chủ động thực hiện các biện pháp phòng bệnh sốt xuất huyết hiệu quả nhất như sau:           Loại bỏ vật trung gian truyền bệnh đó là muỗi Aedes. Người dân tham gia diệt muỗi, diệt loăng quăng, bọ gậy quanh khu vực mình sinh sống.           Thường xuyên vệ sinh môi trường phòng chống sốt xuất huyết bằng những công việc như: đậy kín các dụng cụ chứa nước, không để cho muỗi vào đẻ trứng, cọ rửa và thay nước ít nhất 1 tuần/lần với các dụng cụ chứa nước xô, chum vại, lọ hoa, bể chứa đựng nước, đặc biệt lưu ý các loại cây cảnh thủy sinh trong nhà cũng cần được thay nước và cọ rửa bình 1 tuần/lần.            Đối với các dụng cụ chứa nước lớn hay các bể chứa nên thả cá ăn bọ gậy, người dân cần thực hiện thu gom, hủy bỏ các loại phế thải có thể chưa nước như lốp xe cũ, chai lọ, vỏ đồ hộp, gáo dừa…           Mỗi người dân cần phòng chống muỗi đốt bằng các biện pháp như: dọn dẹp nhà cửa gọn gàng sạch sẽ, không treo quần áo trên tường để giảm bớt chỗ trú ngụ của muỗi.            Ngủ màn kể cả ban ngày. Làm rèm che cửa để hạn chế muỗi xâm nhập vào nhà.           Do muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết hoạt động mạnh hơn vào ban ngày, đặc biệt lúc sáng sớm và chiều tối nên người dân cần mặc quần dài, áo dài tay đặc biệt khi làm vườn, ngủ màn kể cả ban ngày.           Sử dụng các loại thuốc bôi chống muỗi trong những khung giờ sáng sớm và chiều tối, phun hóa chất diệt muỗi định kì tại nhà.

Xem Thêm

Điều trị suy giãn tĩnh mạch mạn chi dưới bằng phương pháp laser nội mạch
Thứ Năm 12/08/2021 09:33:06
Suy giãn tĩnh mạch chi dưới là bệnh lý mạn tính, đặc trưng bởi sự suy giảm chức năng đưa máu về tim gây ra sự ứ trệ máu ở các hệ thống tĩnh mạch vùng chân. Bệnh thường gặp ở người lớn tuổi do quá trình lão hóa các cơ quan theo tuổi tác. Trong đó, tỷ lệ nữ giới thường gặp nhiều hơn so với nam giới ( tỷ lệ 3:1 ). Bệnh thường tiến triển chậm, việc chẩn đoán bệnh không quá phức tạp nhưng điều trị lâu dài và tốn kém, nhất là khi đã xảy ra biến chứng. Bệnh nhân bị suy giãn tĩnh mạch Nguyên nhân và triệu chứng của bệnh suy giãn tĩnh mạch chi dưới Nguyên nhân của bệnh chưa được xác định rõ ràng. Tuy nhiên, có thể liên quan đến một số yếu tố nguy cơ làm tổn thương chức năng của hệ thống van tĩnh mạch một chiều như: • Tư thế sinh hoạt, làm việc phải đứng lâu, ngồi lâu, ít vận động. • Tuổi tác. • Tình trạng thừa cân, béo phì. • Một số yếu tố nguy cơ khác: phụ nữ có thai, bệnh lý huyết khối tĩnh mạch, bệnh lý khiếm khuyết van bẩm sinh,… Các triệu chứng của bệnh suy giãn tĩnh mạch chi dưới tiến triển từ từ qua từng giai đoạn. Ở giai đoạn đầu: • Cảm giác bó chặt ở bắp chân, nặng và mỏi chân. • Chuột rút ở bắp chân về đêm, cảm giác kiến bò ở chân. • Các mạch máu nhỏ nổi lên ở vùng cổ chân, bàn chân Ở giai đoạn tiến triển: • Chân sưng phù, ngứa, đặc biệt ở vùng mắt cá chân. • Các tĩnh mạch nổi thành búi dọc theo đùi, mắt cá hoặc đầu gối. • Thay đổi sắc tố da… Bệnh suy giãn tĩnh mạch chi dưới diễn tiến âm thầm, có thể gây ra các biến chứng như huyết khối tĩnh mạch nông và huyết khối mạch sâu gây đau, phù nề, thậm chí là gâu ra các ổ loét nhiễm khuẩn lâu liền. Phương pháp điều trị suy giãn tĩnh mạch chi dưới Hiện nay, có nhiều phương pháp điều trị suy giãn tĩnh mạch chi dưới. Tuỳ thuộc tình trạng bệnh, mức độ nghiêm trọng của bệnh và đặc điểm của người bệnh sẽ lựa chọn phương pháp điều trị hiệu quả. Với tình trạng bệnh lý nhẹ, có thể sử dụng phương pháp điều nội khoa dùng thuốc kết hợp với đeo tất áp lực, thay đổi lối sống cũng như tập vận động hợp lý. Đối với giai đoạn nặng hơn thì cần ưu tiên phương pháp phẫu thuật, can thiệp nội mạch. ‍Điều trị suy giãn tĩnh mạch mạn chi dưới bằng phương pháp laser nội mạch BSCKII Đỗ Hữu Nghị - Trưởng khoa Tim mạch Lõa khoa Bệnh viện đa khoa Hà Đông cho biết: “Trước đây, khi điều trị suy giãn tĩnh mạch chi dưới, bệnh nhân phải phẫu thuật rất phức tạp, mất nhiều máu, gây đau đớn, thời gian hồi phục kéo dài, để lại sẹo, tính thẩm mỹ không cao... Ngày nay, với phương pháp can thiệp nội mạch ít xâm lấn, sẽ rất nhẹ nhàng, ít gây biến chứng, thời gian hồi phục nhanh có thể xuất viện sau 1 ngày, mang tính thẩm mỹ cao không để lại sẹo và gần như không tái phát.”

Xem Thêm

Cảnh báo gia tăng trẻ cận thị trong mùa dịch COVID-19
Thứ Năm 24/06/2021 08:32:49
Các chuyên gia y tế cảnh báo với tình hình dịch bệnh phức tạp, thời gian ở trong nhà quá lâu cùng các thiết bị di động, tivi, máy tính, lớp học online và đọc truyện tranh… sẽ khiến trẻ em mắc các tật về mắt ngày càng gia tăng, nếu không can thiệp sớm có thể dẫn đến mù lòa. Tình trạng cận thị ở trẻ em có xu hướng tăng trong những năm gần đây nhưng số lượng ca khám mắt do thị lực kém xuất hiện nhiều hơn trong giai đoạn đại dịch COVID-19. BSCKI. Lê Thị Chính - Phó Trưởng khoa Mắt, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông cho biết: Vấn đề chung của các gia đình hiện nay cho con đến khám mắt là thị lực của trẻ rất kém, do thời gian rảnh rỗi ở nhà quá nhiều, cũng không biết làm gì khác ngoài giải trí với các trò chơi trên mạng, xem tivi hoặc đọc sách…. Ngay cả khi không dùng các thiết bị di động thì việc ở trong không gian hẹp quá lâu với tầm nhìn ngắn cũng khiến thị lực không còn như trước. Trong khi, ánh sáng tự nhiên và hoạt động thể chất bên ngoài đóng một vai trò đối với tình trạng sức khỏe của mắt. Đặc biệt là  trẻ từ 7 – 9 tuổi và 12 – 14 tuổi. Trong khoảng thời gian này, nếu trẻ ngủ quá ít hoặc không đủ thời gian để ngủ vì mải chơi sẽ dễ gây ra cận thị. "Ngoài ra, trẻ xem ti vi quá gần, nếu như ngày nào trẻ cũng xem ti vi nhiều hơn 2 giờ, với khoảng cách từ mắt tới ti vi nhỏ hơn 3m thì sẽ làm cho thị lực suy giảm rất nhiều..."- BS. Chính nhấn mạnh. Cùng với cận thị, các bác sĩ cũng cho hay nhiều trường hợp "mỏi mắt kỹ thuật số" ở trẻ em. Các triệu chứng gồm mờ mắt, nhức đầu và mỏi mắt, mắt thiếu linh hoạt. Nhiều trẻ cũng bị chảy nước mắt, nóng rát, dụi mắt thường xuyên hơn, khô và cảm giác có dị vật trong mắt. Các triệu chứng thường giảm dần sau vài giờ, nhưng hiện y khoa chưa nghiên cứu rõ liệu có hậu quả lâu dài hơn hay không. Hình ảnh khám cận thị cho trẻ tại Khoa Mắt. Quy tắc cho mắt nghỉ ngơi 20 giây Chuyên gia nhãn khoa khuyến cáo: Để làm chậm sự  phát triển của cận thị và tránh các vấn đề về mắt, các bậc phụ huynh định kỳ từ 3 đến 6 tháng cho trẻ đi khám mắt 1 lần tại các cơ sở y tế và dành ít nhất một giờ mỗi ngày cho trẻ  hoạt động thể chất ngoài trời. Trong trường hợp gia đình không có sân vườn, bố mẹ nên cố gắng hết sức để tạo một trò chơi hoặc hoạt động thể chất nào đó, cốt để trẻ rời xa máy tính, tivi hoặc điện thoại. Cha mẹ nên hướng dẫn trẻ áp dụng quy tắc nghỉ ngơi 20 giây sau mỗi 20 phút sử dụng màn hình, và hướng ánh mắt nhìn đi nơi khác ở khoảng cách hơn 20m. Nhắc trẻ chớp mắt khi chúng đang nhìn vào màn hình. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng hầu hết mọi người đều chớp mắt ít hơn so với bình thường khi nhìn chằm chằm vào màn hình, điều này có thể gây căng thẳng và khô mắt. Đối với các triệu chứng khô mắt cần nhỏ nước muối sinh lý để vệ sinh mắt. Bên cạnh đó, phụ huynh cần cho trẻ ăn các thực phẩm có chứa nhiều vitamin A, quan tâm và phát hiện sớm cận thị ở trẻ (khi trẻ xem ti vi mà nheo mắt, kêu nhức mắt…) cần đưa trẻ đến cơ sở y tế khám, điều trị và được hướng dẫn cụ thể trong việc đeo kính phù hợp cho trẻ. Trẻ đã cận thị, đeo kính là biện pháp an toàn nhất. Lưu ý, kính tiếp xúc hay còn gọi là kính áp tròng không thích hợp với trẻ và cũng có nguy cơ gây nhiễm trùng. Hiện nay, có các phương pháp phẫu thuật nhưng phải đợi đến khi trẻ  trên 18 tuổi, độ cận đã ổn định mới thực hiện được.

Xem Thêm

Dấu hiệu nhận biết các bệnh về đường hô hấp ở người lớn và trẻ nhỏ.
Thứ Năm 13/05/2021 10:09:22
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cảnh báo về các bệnh lý viêm đường hô hấp trên (cúm, viêm mũi họng, viêm phổi, viêm phế quản, viêm tai giữa…) đã gây ra 10 triệu ca tử vong hàng năm. Các bệnh về đường hô hấp thường gặp nhất ở đối nhóm đối tượng người già và trẻ nhỏ, cần phát hiện sớm để phòng và điều trị các bệnh về đường hô hấp kịp thời; trước khi người bệnh có tình trạng xấu đi gây nguy hiểm đến tính mạng. Các loại bệnh về đường hô hấp Cảm cúm Các triệu chứng thường bao gồm: Sổ mũi. Đau họng. Hắt xì. Nhức đầu và đau nhức cơ thể. Hen suyễn Các biểu hiện của hen suyễn: Tức ngực hoặc áp lực. Khó thở hoặc khó thở. Khò khè hoặc huýt sáo khi thở ra. Viêm xoang Dấu hiệu nhận biết của viêm xoang khi thời tiết thay đổi, hay dị ứng người bệnh thường buốt và rát ở phần xoang mũi. Các biểu hiện thường gặp ở người bị viêm xoang: Đau buốt ở hốc mặt, đặc biệt là sau mắt và mũi. Cảm thấy nghẹt thờ Ho và sổ mũi. Chảy nước mũi có thể gây đau họng, hôi miệng và buồn nôn hoặc nôn. Viêm phế quản Các triệu chứng thường gặp: Sổ mũi. Đau ngực Sốt và ớn lạnh. Cảm giác khó chịu hoặc mệt mỏi. Khò khè. Đau họng. Chán ăn Viêm họng Các dấu hiệu bệnh: Đau họng Sốt Nhức đầu Đau khớp và đau cơ Phát ban da Sưng hạch bạch huyết ở cổ Hắt hơi Ho Sốt với nhiệt độ 38 độ C Nhức đầu nhẹ Thời điểm giao mùa sang hè, sử dụng điều hoà cùng với đó là thay đổi thời tiết, mưa đột xuất… rất dễ khiến chúng ta gặp các vấn đề về bệnh đường hô hấp. Nhận biết bệnh và thăm khám tại Cơ sở Y tế, uy tín là cách tốt nhất giúp bạn hiệu quả điều trị và tránh được những biến chứng nguy hiểm.   ĐƠN NGUYÊN KCB TỰ NGUYỆN - BỆNH VIỆN ĐA KHOA HÀ ĐÔNG Địa chỉ thăm khám, tư vấn các bệnh lý Tai, Mũi, Họng – an toàn - nhanh chóng – hiệu quả cao. Địa chỉ: số 2 Bế Văn Đàn, Quang Trung, Hà Đông, Hà Nội Hotline: 0969.668.115      

Xem Thêm

DANH MỤC TIN
Từ 1/1/2021: "Chỉ thông tuyến tỉnh với người có thẻ BHYT điều trị nội trú…"
Thứ Hai 28/12/2020 08:24:49
"Nhiều người đang hiểu thông tuyến tỉnh là tất cả người bệnh được quỹ BHYT chi trả. Tôi xin khẳng định, quy định này chỉ dành cho người đến khám và được bác sĩ chỉ định nhập viện điều trị nội trú…". Từ 1/1/2021, thông tuyến tỉnh điều trị nội trú với người có thẻ BHYT. (Ảnh: Đỗ Linh). Ông Lê Văn Phúc - Trưởng Ban thực hiện chính sách bảo hiểm y tế (Bảo hiểm xã hội VN) - trao đổi thêm thông tin liên quan tới quy định thông tuyến tỉnh khám chữa bệnh nội trú theo thẻ BHYT, có hiệu lực từ ngày 1/1/2021.  Người có thẻ BHYT hưởng lợi gì? Theo ông Lê Văn Phúc, từ ngày 1/1/2021, việc mở thêm quy định thông tuyến tỉnh điều trị nội trú giúp cho người có thẻ BHYT chủ động lựa chọn, tiếp cận dịch vụ y tế phù hợp với tình trạng bệnh, đồng thời cũng là cơ hội để các tuyến y tế nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Những trường hợp người có thẻ BHYT phát sinh nhu cầu khám, điều trị tại bệnh viện tuyến tỉnh hoặc đang ở tỉnh xa nếu bị bệnh thì có thể đến các bệnh viện tuyến tỉnh và được BHYT chi trả 100% nếu điều trị nội trú, không phải trở về địa phương để khám chữa bệnh theo tuyến như trước kia.  Ông Lê Văn Phúc - Trưởng ban thực hiện chính sách BHYT(BHXH VN). (Ảnh: TL) "Do phạm vi lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh càng rộng, người bệnh có nhiều sự lựa chọn hơn và thúc đẩy các cơ sở y tế từ tuyến cơ sở đến tuyến tỉnh nâng cao chất lượng khám chữa bệnh để thu hút, tạo sự tin tưởng cho người bệnh" - ông Lê Văn Phúc giải thích thêm. Trong đó, các nhóm đối tượng được BHYT chi trả 100% chi phí khi đi khám chữa bệnh đúng tuyến, gồm: Người có công với cách mạng, người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng, người thuộc hộ gia đình nghèo, người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo; trẻ em dưới 6 tuổi… Trước đó, Luật BHYT năm 2014 đã quy định quy định thông tuyến huyện cho hoạt động khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT từ ngày 1/1/2016. Với quy định tại Khoản 6 Điều 22 Luật BHYT, từ ngày 1/1/2021, người tham gia BHYT khi đi khám chữa bệnh không đúng tuyến tại cơ sở khám chữa bệnh tuyến tỉnh sẽ được quỹ BHYT trả chi phí điều trị nội trú theo phạm vi quyền lợi và mức hưởng như trường hợp khám chữa bệnh đúng tuyến. Đại diện Ban thực hiện chính sách BHYT cho biết thêm: "Theo quy định hiện hành, Quỹ BHYT chỉ thanh toán 60% chi phí điều trị nội trú khi vượt tuyến. Sau ngày 1/1/2021, tùy từng nhóm đối tượng tham gia BHYT theo Luật BHYT quy định, người bệnh được thanh toán chi phí khám chữa bệnh với các mức 100%, 95% hoặc 80%".  "Xin được lưu ý, với quy định thông tuyến tỉnh từ năm 2021, Quỹ BHYT chỉ chi trả 100% chi phí theo phạm vi quyền lợi và mức hưởng cho các trường hợp người bệnh tự đi khám tại bệnh viện tuyến tỉnh và có chỉ định điều trị nội trú của bác sĩ. Trường hợp người dân tự đi khám ngoại trú, sẽ phải tự chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh" - Ông Lê Văn Phúc cho. Đồng thời, quy định thông tuyến tỉnh được áp dụng với tất cả các bệnh viện tuyến tỉnh và một số bệnh viện ngành. Các tuyến trung ương như bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức, Chợ Rẫy, Thống Nhất, Trung ương 108 không áp dụng. Áp lực cho quỹ BHYT và cơ sở khám chữa bệnh Dự báo của Ban thực hiện chính sách BHYT, sau khi thông tuyến tỉnh, chi phí khám chữa bệnh sẽ gia tăng lên con số không nhỏ. "Năm 2020, quỹ BHYT chi trả 60% chi phí điều trị nội trú cho hơn 1 triệu bệnh nhân vượt tuyến với số tiền khoảng 1.250 tỉ đồng. Nếu áp số lượng bệnh nhân trên với năm 2021, trong điều kiện trả toàn bộ chi phí điều trị nội trú, chi phí BHYT dự kiến tăng ít nhất 2.000 tỉ đồng…" - ông Lê Văn Phúc ước tính. Người dân tới khám chữa bệnh theo thẻ BHYT (Ảnh: TL) Đây cũng là thách thức lớn đối với việc quản lý quỹ BHYT. Bởi theo ông Lê Văn Phúc, quỹ dự phòng BHYT chỉ có thể đáp ứng chi trả đến hết năm 2021.  Vậy cần hạn chế những tác động không mong muốn ra sao với quỹ BHYT cũng như hạn chế tình trạng "dồn ứ" cho nhiều bệnh viện tuyến tỉnh? Theo ông Lê Văn Phúc, người dân cần hiểu rõ quy định của việc thông tuyến tỉnh chỉ dành cho điều trị nội trú. Theo thống kê của BHXH VN, tới cuối tháng 12/2020, cả nước có 88 triệu người tham gia BHYT, chiếm 90,85% dân số, vượt 0,15% chỉ tiêu Nghị quyết số 01 của Chính phủ, tăng 25,6% so với năm 2015. Trong khi đó, hệ thống y tế của Việt Nam đã được vận hành theo phân cấp: Trường hợp bệnh nhẹ, người bệnh sẽ được chuyển đến cơ sở y tế tuyến xã, huyện. Trường hợp mắc bệnh nặng hơn thì mới lên tuyến tỉnh hoặc Trung ương để điều trị. Những năm qua ngành y tế đã chú trọng nâng cấp hệ thống y tế cơ sở, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và năng lực chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. "Việc thông tuyến tỉnh đối với người bệnh nội trú là đã "khoanh vùng" những người bệnh nặng, phải điều trị dài ngày, chuyên sâu, cần chăm sóc nhiều hơn…" - ông Lê Văn Phúc cho biết. Liên quan tới hạn chế tình trạng "lạm dụng" chỉ định điều trị nội trú của bác sĩ, ông Lê Văn Phúc cho biết nếu không giám sát hiệu quả, các bệnh viện sẽ đối mặt với tình trạng quá tải khi bệnh nhân điều trị nội trú gia tăng trong khi các nguồn lực còn hạn chế. "Có thể xảy ra xu hướng chỉ định điều trị nội trú kể cả với bệnh nhân bệnh nhẹ, chưa thực sự cần thiết điều trị nội trú cũng nhập viện, dễ dẫn đến quá tải BV. Chưa kể bệnh nhân nội trú kèm theo vài người thăm nom, chăm sóc gây khó khăn cho sinh hoạt của bệnh viện…" - ông Lê Văn Phúc cho biết. Theo ông Lê Văn Phúc, Bộ Y tế đang hoàn tất quy định về chỉ định nhập viện điều trị nội trú để tránh tình trạng lạm dụng điều trị nội trú khi không cần thiết. Đồng thời, Bộ cũng yêu cầu các giám đốc sở Y tế các tỉnh, thành phố chỉ đạo các cơ sở khám chữa bệnh tuyến tỉnh tăng cường công tác quản lý chất lượng dịch vụ theo đúng hướng dẫn tại Thông tư số 19/2013/TT-BYT về thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện… Nguồn: dantri.com.vn