Viêm gan bí ẩn (viêm gan lạ): Triệu chứng và cách phòng ngừa
Thứ Hai 30/05/2022 09:28:16
Viêm gan bí ẩn là gì? Viêm gan bí ẩn là tình trạng gan bị viêm nhiễm chưa xác định rõ nguyên nhân ở trẻ nhỏ và trẻ vị thành niên. Viêm gan gây ra do nhiều nguyên nhân, thường liên quan đến nhiễm virus, phổ biến nhất là 5 loại virus viêm gan chính gồm virus A, B, C, D và E, ngoài ra những nguyên nhân ít gặp như adenovirus, CMV, EBV… Nhưng trường hợp gần đây, hàng trăm ca viêm gan bí ẩn đang được ghi nhận, không có bệnh nhân nào được tìm thấy mắc một trong 5 loại virus viêm gan phổ biến. Hiện đang nghi vấn Adenovirus chính là thủ phạm gây ra hàng loạt ca mắc viêm gan bí ẩn trên toàn cầu. Viêm gan bí ấn xuất hiện ở đâu? Vào tháng 10 năm 2021, 5 bệnh nhi bị viêm gan không rõ nguyên nhân đã được xác định ở bệnh viện trẻ em ở Alabama (Mỹ).Năm đứa trẻ đều có kết quả âm tính với viêm gan A,B,C và dương tính với adenovirus, một virus phổ biến thường gây ra bệnh cảnh như cảm lạnh hoặc cúm, triệu chứng tiêu hóa dạ dày, ruột. Ngày 31/3/2022, Cơ quan an toàn y tế Anh (UKHSA) cảnh báo về tình trạng bệnh viêm gan bí ẩn khi 5 trường hợp viêm gan bí ẩn được ghi nhận ở Anh.Kể từ đó, Vương quốc Anh báo cáo tổng cộng 163 ca viêm gan bí ẩn, hơn nửa dương tính với adenovirut.Mỹ có số ca viêm gan bí ẩn ở trẻ em cao tiếp sau Anh, đến ngày 5 tháng 5 với 109 ca ở 25 tiểu bang, trong đó trên 50% số ca có liên quan đến Adenovirus. Khoảng 90% ca viêm gan loại này ở trẻ em phải nhập viện, 14% số ca cần phải ghép gan, và 5 ca tử vong, tiếp theo là Tây Ban Nha với 13 ca và Israel với 12 ca. Số lượng ca viêm gan bí ẩn nhỏ hơn cũng được ghi nhận ở Đan Mạch, Ireland, Hà Lan, Italia, Na Uy, Pháp, Romania và Bỉ. Đáng báo động, viêm gan lạ cũng lan đến Đông Nam Á khi Bộ Y tế Indonesia cho biết xác định 15 ca nhiễm, 3 bệnh nhi đã nhập viện và qua đời ở thủ đô Jakarta. Trước Indonesia, tại Singapore cũng đã xác nhận 1 trường hợp viêm gan cấp tính ở bệnh nhi 10 tháng tuổi. Đến ngày 19 tháng 5, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh châu Âu cho biết số ca mắc bệnh viêm gan cấp và không rõ nguyên nhân ở trẻ em trên toàn cầu đã tăng lên 621 trường hợp từ 34 quốc gia. Độ tuổi nhiễm viêm gan bí ẩn Đối tượng phổ biến mắchiện nay là trẻ em trong độ tuổi từ 1 tháng đến 16 tuổi không có bệnh kèm theo, hầu hết là dưới 10 tuổi và nhiều nhất là nhóm trẻ dưới 5 tuổi. Đa số trẻ em mắc bệnh này trước đó đều khỏe mạnh.Một số trường hợp đã từng mắc Covid-19 hoặc nhiễm adenovirus trước đó.Hiện nay vẫn chưa có câu trả lời chính xác căn nguyên bệnh viêm gan bí ẩn, tuy nhiên, giả thuyết hàng đầu là adenovirus (loại virus chứa DNA chuỗi kép, đường kính của virus từ 70-80nm, không có vỏ bọc bên ngoài). Adenovirus là loại virus rất phổ biến ở người, đặc biệt là trẻ em. Gần như mọi đứa trẻ đều bị nhiễm adenovirus ít nhất 1 lần trước 10 tuổi, thường gây cảm lạnh thông thường với các triệu chứng giống như cúm, hoặc gây bệnh đường tiêu hóa như viêm dạ dày ruột cấp tính.. Trong đó, adenovirus type 41 chủ yếu lây lan qua đường tiêu hóa, là nguyên nhân phổ biến của bệnh viêm dạ dày – ruột cấp tính ở trẻ em, điển hình là tiêu chảy, nôn ói và sốt, thường kèm theo các triệu chứng hô hấp. Virus Adeno được coi là nguyên nhân phổ biến thứ hai gây tiêu chảy trong các nghiên cứu về trẻ em nhập viện tại các nước phát triển, sau Rotavirus. Tuy nhiên, không phải tất cả trẻ viêm gan đều xét nghiệm dương tính adenovirus.Virus có thể gây viêm gan, song nó không phải nguyên nhân phổ biến nhất.“Việc adenovirus gây viêm gan không mới.Trước đây đã từng có những trường hợp nhiễm virus này ở trẻ suy giảm miễn dịch.Tuy nhiên, hiện nay tỷ lệ mắc cao hơn, gặp cả ở những trẻ khỏe mạnh”, các chuyên gia y tế hàng đầu cho hay. Cơ quan an toàn y tế Anh (UKHSA) cho biết bệnh viêm gan cấp tính bí ẩn có thể là chủng adenovirus đột biến mới, hoặc bệnh nhân nhiễm adenovirus kết hợp với một số yếu tố nguy cơ khác, chẳng hạn đồng nhiễm loại virus khác, sau đó tiến triển thành viêm gan. Đến nay, nhiều người đặt ra câu hỏi liệu bệnh viêm gan bí ẩn ở trẻ em có liên quan gì tới Covid-19 và vắc xin Covid-19 hay không?Hiện, không có bằng chứng cho thấy vắc xin Covid-19 liên quan gì đến sự gia tăng đột biến các ca viêm gan. Ở Anh, nơi tập trung nhiều ca viêm gan nhất, không có trường hợp nào trong số này được tiêm vắc xin Covid-19, bởi trẻ nhỏ dưới 5 tuổi chưa hề được tiêm phòng vắc xin Covid-19. Triệu chứng của bệnh viêm gan bí ẩn Triệu chứng phổ biến nhất là triệu chứng về tiêu hóa, bao gồm nôn mửa, tiêu chảy, đau bụng, sốt, nước tiểu sẫm màu hay phân nhạt màu. Triệu chứng đặc trưng nhất cần cảnh giác là vàng da hay vàng mắt. Các xét nghiệm cận lâm sàng cho thấy trẻ cũng có nồng độ men gan cao bất thường, dấu hiệu của tình trạng viêm, tổn thương gan. Cần nhận biết sớm các triệu chứng của viêm gan bao gồm: Sốt Mệt mỏi; Ăn mất ngon; Buồn nôn; Nôn mửa; Đau bụng; Nước tiểu đậm; Phân bạc màu; Đau khớp; Vàng da; Tăng nồng độ men gan (aspartate transaminase (AST) hoặc alanine aminotransaminase (ALT) trên 500 IU/L). Do adenovirus vừa lây theo đường hô hấp, đường tiêu hóa và tiếp xúc trực tiếp nên việc tuân thủ các biện pháp vệ sinh thông thường lây nhiễm theo đường hô hấp như đeo khẩu trang, không tụ tập, giữ khoảng cách là quan trọng. Phác đồ điều trị bệnh viêm gan lạ ở trẻ em hiện nay Hiện nay, vẫn chưa có phác đồ và thuốc điều trị đặc hiệu bệnh viêm gan lạ ở trẻ. Điều trị viêm gan do adenovirus gây ra chủ yếu vẫn là các biện pháp điều trị hỗ trợ giảm nhẹ triệu chứng phương pháp chẩn đoán và điều trị tốt ở trẻ có tình trạng viêm gan nặng là ghép gan để qua cơn nguy kịch. Những trường hợp nặng không được ghép gan đều tử vong. Vì vậy, việc phát hiện sớm triệu chứng rất có giá trị để can thiệp, điều trị cho trẻ. Nguồn tài liệu tham khảo: https://edition.cnn.com/2022/05/20/health/hepatitis-children-cases-rise/index.html https://vnvc.vn/viem-gan-bi-an/ https://www.cdc.gov/ncird/investigation/hepatitis-unknown-cause/overview-what-to-know.html https://www.who.int/emergencies/disease-outbreak-news/item/2022-DON376

Xem Thêm

Bệnh tay chân miệng – những dấu hiệu nhận biết và cách phòng tránh cha mẹ cần biết
Thứ Tư 25/05/2022 09:24:15
Tay chân miệng là bệnh truyền nhiễm cấp tính, thường xảy ra ở trẻ nhỏ, phần lớn thường diễn biến không quá nghiêm trọng. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp đặc biệt, trẻ đột ngột tiến triển nặng và gặp phải biến chứng nguy hiểm nếu không được xử trí kịp thời. Do đó, các bậc phụ huynh không nên chủ quan mà cần áp dụng các biện pháp để phòng tránh. Theo Bộ Y tế, trên hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm từ đầu năm 2022 đến nay, cả nước đã ghi nhận 5.545 ca mắc bệnh tay chân miệng, trong đó có 1 ca tử vong tại Bình Thuận. Tình hình bệnh tay chân miệng đang có chiều hướng gia tăng, bùng phát mạnh thời gian gần đây. Theo thống kê đến giữa tháng 5/2022 đã có 30 bệnh nhi được chẩn đoán chân tay miệng đang điều trị Khoa Bệnh nhiệt đới, bệnh viện đa khoa Hà Đông, tăng mạnh hơn so với cùng kỳ năm trước. Tay chân miệng là bệnh truyền nhiễm cấp tính, thường xảy ra ở trẻ nhỏ, phần lớn thường diễn biến không quá nghiêm trọng. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp đặc biệt, trẻ đột ngột tiến triển nặng và gặp phải biến chứng nguy hiểm nếu không được xử trí kịp thời. Do đó, các bậc phụ huynh không nên chủ quan mà cần áp dụng các biện pháp để phòng tránh. Theo Bộ Y tế, trên hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm từ đầu năm 2022 đến nay, cả nước đã ghi nhận 5.545 ca mắc bệnh tay chân miệng, trong đó có 1 ca tử vong tại Bình Thuận. Tình hình bệnh tay chân miệng đang có chiều hướng gia tăng, bùng phát mạnh thời gian gần đây. Theo thống kê đến giữa tháng 5/2022 đã có 30 bệnh nhi được chẩn đoán chân tay miệng đang điều trị Khoa Bệnh nhiệt đới, bệnh viện đa khoa Hà Đông, tăng mạnh hơn so với cùng kỳ năm trước. Bệnh tay chân miệng gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương. Ở vùng khí hậu nhiệt đới bệnh thường xuất hiện vào mùa hè và đầu thu. Tại Việt Nam, tỷ lệ trẻ mắc tay chân miệng tăng cao từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12. Thời điểm này đang là những tháng cao điểm của dịch bệnh, do ảnh hưởng từ dịch Covid – 19 làm đẩy lùi thời gian đến trường của học sinh. Các em tập trung đông trở lại học tập sau thời gian dài nghỉ dịch trong điều kiện vệ sinh lớp học chưa đảm bảo là một trong những nguyên nhân khiến dịch bệnh bùng phát, lây lan”, Bác sĩ Trần Kim Anh – Trưởng Khoa Bệnh nhiệt đới cho biết. Bệnh tay chân miệng là bệnh truyền nhiễm lây từ người sang người, dễ gây thành dịch do vi rút đường ruột gây ra qua tiếp xúc trực tiếp với dịch mũi, họng, nước bọt, chất dịch từ mụn nước hoặc phân của người nhiễm bệnh. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt tập trung ở nhóm tuổi dưới 3 tuổi. Do đó, những trẻ học lớp mầm non, mẫu giáo có nguy cơ nhiễm bệnh rất lớn vì trong quá trình học tập, vui chơi, trẻ có thể bị lây chéo qua đường miệng do chơi cùng các đồ chơi và thói quen ngậm đồ chơi vào miệng. Do mức độ lưu hành rộng của các virus ruột, phụ nữ có thai cũng có thể nhiễm bệnh. Nhiễm virus đường ruột trong thai kỳ thường gây nên bệnh nhẹ hoặc không triệu chứng. Tuy nhiên nếu thai phụ nhiễm bệnh trong một thời gian ngắn trước khi sinh có thể truyền virus cho trẻ sơ sinh. Đa số trẻ này chỉ biểu hiện nhẹ nhưng nếu bệnh xuất hiện trong hai tuần đầu sau sinh thường có nguy cơ rối loạn chức năng gan, phổi, não, tỷ lệ tử vong cao. Anh cho biết: Thời gian ủ bệnh tay chân miệng trong khoảng 3 – 7 ngày, không triệu chứng. Dấu hiệu đặc trưng nhận biết bệnh tay chân miệng ở giai đoạn khởi phát là sốt nhẹ 37,5 – 38 độ C, đi ngoài phân lỏng hoặc nát 1-3 lần/ngày, trẻ quấy khóc, biếng ăn, kém linh hoạt, đau họng. Giai đoạn toàn phát, trẻ có biểu hiện loét miệng, niêm mạc má, lợi, lưỡi xuất hiện chấm đỏ hình thành các phỏng nước, phát ban dạng phỏng nước trên da ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, sốt nhẹ, nôn. Nếu trẻ sốt cao và nôn nhiều dễ có nguy cơ biến chứng nguy hiểm như viêm não-màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và xử trí kịp thời.  Bệnh tay chân miệng có một thể lâm sàng gọi là tối cấp diễn tiến rất nhanh với các biến chứng nặng như suy tuần hoàn, suy hô hấp, hôn mê dẫn đến tử vong trong vòng 24-48 giờ. Bệnh tay chân miệng được phân thành 4 cấp độ bệnh từ nhẹ đến nặng lần lượt là I, II, III,IV. Trẻ mắc bệnh tay chân miệng độ nhẹ nhất (độ I) với dấu hiệu chỉ loét miệng và tổn thương da có thể điều trị tại nhà, bổ sung đầy đủ dinh dưỡng và hạ sốt cao bằng Paracetamol liều 10 mg/kg/lần (uống) mỗi 6 giờ, cho trẻ nghỉ ngơi yên tĩnh, tránh kích thích. Khi trẻ sốt cao trên 39 độ, thở nhanh, lừ đừ, run chi, quấy khóc, bứt rứt khó ngủ, nôn nhiều, đi loạng choạng, da nổi vân tím, vã mồ hôi, tay chân lạnh thì phụ huynh cần lập tức đưa trẻ đến cơ sở y tế để điều trị. Những sai lầm thường gặp của cha mẹ khi điều trị tay chân miệng tại nhà cho trẻ? Về vấn đề này, bác sĩ cho biết: “Khai thác tiền sử trường hợp bệnh nhi nhập viện tay chân miệng tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông, trước khi bé nhập viện bị sốt nhẹ 3 ngày đầu tiên khoảng 37,8 độ, bố mẹ đã cho các bé dùng kháng sinh, hạ sốt, chống nôn. Việc sử dụng kháng sinh để điều trị bệnh tay chân miệng do virus gây ra là không đúng vì kháng sinh chỉ có tác dụng điều trị bệnh do vi khuẩn gây ra. Trường hợp các bé mắc tay chân miệng mà kết quả xét nghiệm có viêm nhiễm do vi khuẩn thì bác sĩ mới cân nhắc kê kháng sinh điều trị. Vì vậy, thay vì tự ý mua thuốc điều trị tại nhà, ngay khi các bé khi có dấu hiệu bệnh tay chân miệng, cha mẹ nên đưa bé đến khám tại cơ sở y tế để xác định mức độ diễn biến của bệnh, nghe tư vấn và lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp từ bác sĩ chuyên khoa. Hiện tại chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh tay chân miệng mà chỉ điều trị triệu chứng và đề phòng các biến chứng nặng của bệnh. Do vậy, vấn đề vệ sinh là biện pháp phòng ngừa tốt nhất giúp bảo vệ sức khỏe của trẻ trước dịch bệnh và hạn chế dịch bệnh lây lan. Cụ thể: Người chăm sóc trẻ phải rửa tay thường xuyên bằng xà phòng, đặc biệt (đặc biệt sau khi thay quần áo, tã, sau khi tiếp xúc với phân, nước bọt), trước khi chế biến thức ăn, trước khi cho trẻ ăn, trước khi bế ẵm trẻ… Đồng thời hướng dẫn trẻ thực hiện rửa tay đúng cách hàng ngày. Thường xuyên lau sạch các bề mặt, dụng cụ tiếp xúc hàng ngày như đồ chơi, dụng cụ học tập, tay nắm cửa, tay vịn cầu thang, mặt bàn/ghế, sàn nhà bằng xà phòng hoặc các chất tẩy rửa. Thực hiện ăn chín, uống sôi; vật dụng ăn uống phải đảm bảo được rửa sạch sẽ trước khi sử dụng (tốt nhất là ngâm tráng nước sôi. Cách ly trẻ bệnh tại nhà; Không đến nhà trẻ, trường học, nơi các trẻ chơi tập trung trong 10-14 ngày đầu của bệnh... Tay chân miệng là bệnh truyền nhiễm có thể điều trị tại nhà theo phác đồ của Bác sĩ. Bệnh thường tự khỏi sau 5 – 7 ngày mà không gây ra nhiều nguy hiểm cho trẻ. Tuy nhiên, nếu không phát hiện sớm, chữa trị kịp thời, bệnh tay chân miệng có thể dẫn đến một số biến chứng nghiêm trọng khác. Vì vậy, bố mẹ cần đưa trẻ thăm khám càng sớm càng tốt khi có các dấu hiệu bất thường.

Xem Thêm

Những lưu ý khi chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân tăng huyết áp
Thứ Sáu 20/05/2022 09:25:44
Đặc điểm của bệnh nhân tăng huyết áp là tiến triển kéo dài và ngày càng nặng dần nếu không được điều trị và chăm sóc tốt. Bệnh để lại di chứng rất nặng và có thể tử vong do những biến chứng của bệnh hoặc do tai biến điều trị. Vì thế bệnh nhân tăng huyết áp và gia đình cần phải biết các nguyên nhân, các yếu tố thuận lợi làm tăng huyết áp cũng như cách phát hiện các biến chứng tăng huyết áp, cách phòng, điều trị và theo dõi bệnh nhân tăng huyết áp.  Về chăm sóc cơ bản Nên để bệnh nhân nghỉ ngơi, tránh gắng sức, căng thẳng, thức đêm. Nên tập thể dục nhẹ, đi bộ thư giãn, bơi lội. Ăn uống đủ năng lượng, nhiều sinh tố và hạn chế muối dưới 5g muối, hạn chế mỡ, các chất béo động vật, kiêng rượu, thuốc lá, chè đặc, nên ăn nhiều hoa quả tươi. Vệ sinh sạch sẽ hàng ngày, vệ sinh răng miệng và da để tránh các ổ nhiễm khuẩn, phát hiện sớm các ổ nhiễm trùng để có hướng điều trị cho bệnh nhân . Ngoài ra nên tránh các yếu tố kích thích cho người bệnh. Bác sĩ sẽ giải thích cho bệnh nhân và gia đình về tình trạng bệnh tật. Hướng dẫn bệnh nhân cách tự theo dõi các tác dụng phụ của thuốc. Đồng thời nhân viên y tế theo dõi các vấn đề sau: -Dấu hiệu sinh tồn: mạch, nhiệt, huyết áp, nhịp thở. -Tình trạng tổn thương mắt, thận và tim mạch.Các biến chứng của tăng huyết áp.-Tình trạng sử dụng thuốc và các biến chứng do thuốc gây ra, đặc biệt chú ý các thuốc có thể gây hạ huyết áp tư thế đứng hay các thuốc hạ huyết áp mạnh. -Một số xét nghiệm như: bilan lipid máu, công thức máu, ure và creatinin máu điện tim, siêu âm tim và chụp X quang tim phổi, soi đáy mắt…  Giáo dục sức khoẻ  Giáo dục cho bệnh nhân và gia đình về các nguyên nhân, các yếu tố thuận lợi làm tăng huyết áp Dự phòng cấp I: đối với những người chưa bị tăng huyết áp cần lưu ý vấn đề sinh hoạt hàng ngày nhất là các thói quen có hại sức khỏe phải khám định kỳ để phát hiện tăng huyết áp hay các bệnh liên quan. Trong đối tượng này chú ý đến những người có yếu tố nguy cơ mắc bệnh cao cho dù những lần đầu chưa phát hiện tăng huyết áp nhưng cần trao đổi tuyên truyền để phối hợp dự phòng cùng nhân viên y tế tuyến trước. Dự phòng cấp II: đối với người đã tăng huyết áp, cần phải chặt chẽ hơn nữa trong chế độ ăn uống, nghỉ ngơi theo dõi huyết áp đều đặn và có kế hoạch điều trị ngoại trú để theo dõi tiến triển, tác dụng phụ của thuốc. Cần chú ý yếu tố kinh tế trong điều trị vì đây là một liệu trình lâu dài, tốn kém. Có 6 cách phòng bệnh ngay từ đầu: Tránh béo phì. Tăng hoạt động thể lực. Thay đổi lượng muối trong chế độ ăn (< 2,4g/ngày tương đương với khoảng 6g muối ăn natri clorid). Thay đổi lượng rượu bia đối với những người uống quá nhiều. ủy ban quốc gia Hoa Kỳ về phòng chống tăng huyết áp JNC-VI khuyên mỗi ngày chỉ nên uống không quá 1 ounce đối với nam và 1/2 ounce đối với nữ (1 ounce khoảng 29,6 ml rượu whisky). Bỏ hút thuốc lá. Theo dõi huyết áp. Bệnh nhân thay đổi lối sống: Giảm cân nếu quá cân. Hạn chế uống rượu: trong mỗi ngày uống không quá 30 ml ethanol, tương đương 720 ml bia, 300 ml rượu vang, 60 ml whisky đối với nam giới, nữ giới và người nhẹ cân uống bằng một nửa nam giới. Tăng hoạt động thể lực: 30-40 phút hàng ngày. Giảm lượng muối ăn vào. Duy trì đủ chế độ kali qua chế độ ăn ư Duy trì calci và magnesi cần thiết. Ngừng hút thuốc lá. Giảm ăn các chất béo và mỡ bão hòa.

Xem Thêm

Hướng dẫn sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp cho phụ nữ có thai
Thứ Hai 16/05/2022 14:51:08
Cao huyết áp khi mang thai là tình trạng phổ biến với tỷ lệ gặp ở 10% phụ nữ mang thai lần đầu và 8% ở mọi lần mang thai. Sử dụng thuốc điều trị cao huyết áp cho phụ nữ có thai là biện pháp giúp trị bệnh hữu hiệu. Tuy nhiên, khi sử dụng thuốc, thai phụ cần tuân thủ đúng chỉ định của bác sĩ vì một số loại thuốc có thể gây ra những tác dụng phụ khó lường cho cả mẹ và con. Các hình thái cao huyết áp thai kỳ gồm: Cao huyết áp mạn tính: Cao huyết áp xảy ra trước khi có thai nhưng chỉ được phát hiện khi khám thai định kỳ; Tiền sản giật: Cao huyết áp được phát hiện lần đầu sau tuần lễ thứ 20 của thai kỳ với các biểu hiện phù, protein niệu. Tình trạng này có thể đe dọa tới tính mạng của cả mẹ và con nếu không được điều trị kịp thời do tiền sản giật chuyển sang cơn sản giật: thai phụ chuyển sang hôn mê do nhiễm độc máu tiến triển, gây biến chứng ở não (đau đầu, co giật), ở mắt (mờ mắt), ở gan (đau vùng bụng),... và dễ dẫn đến tử vong; Cao huyết áp đơn thuần: Phát hiện sau tuần thứ 20 của thai kỳ nhưng không có biểu hiện của tiền sản giật. Tình trạng này cũng thường không cần phải điều trị vì huyết áp của phụ nữ mang thai sẽ trở về trạng thái bình thường sau khi sinh con. Dưới đây là bảng tổng hợp các loại thuốc được ưu tiên lựa chọn trong điều trị cao huyết áp cho phụ nữ mang thai vì các thành phần của chúng đều an toàn, không gây tác dụng phụ cho thai phụ và thai nhi: Lưu ý khi sử dụng thuốc điều trị cao huyết áp cho phụ nữ mang thai: Lựa chọn thuốc hạ áp cần phải an toàn cho thai phụ và thai phi, đường sử dụng thuốc tùy thuộc vào thời gian dự sinh và không gây ảnh hưởng tới tưới máu tử cung - nhau thai; Nhận biết tăng huyết áp càng sớm càng tốt để đưa ra các biện pháp phòng ngừa, điều trị thích hợp ngay từ giai đoạn sớm, bệnh còn nhẹ; Thai phụ bị tăng huyết áp nên đi khám định kỳ, đặc biệt là lúc chuyển sang giai đoạn khác của thai kỳ để bác sĩ có sự điều chỉnh loại thuốc phù hợp nếu cần thiết; Trong trường hợp bất đắc dĩ phải dùng một loại thuốc chưa phù hợp, bác sĩ sẽ cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ để đưa ra lựa chọn phù hợp. Lúc này, cần có sự theo dõi cẩn thận và thông báo cho bệnh nhân để phối hợp một cách tốt nhất Bài viết được sự hỗ trợ về chuyên môn của Ds Lê Thị Thái Lan, Ds Nguyễn Thị Châm – Tổ Dược lâm sàng, thông tin thuốc

Xem Thêm

Những điều cần biết về bệnh suy giãn tĩnh mạch
Thứ Hai 16/05/2022 08:47:29
Bệnh suy giãn tĩnh mạch chi dưới (suy giãn tĩnh mạch chân) là nguyên nhân gây ra tàn tật cho người bệnh, nếu nặng có thể dẫn đến mất chi hoặc tử vong. Tuy nhiên nhiều người lại chủ quan, bỏ qua căn bệnh này vì dấu hiệu ban đầu khá mơ hồ. Suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính là các bất thường về chức năng và hình thể của hệ tĩnh mạch diễn biến kéo dài. Biểu hiện bằng các triệu chứng giãn tĩnh mạch, nặng tức chân, phù và các thay đổi ở da tùy theo mức độ nặng hay nhẹ của bệnh, hậu quả của bệnh sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. NỘI DUNG: 1. Nguyên nhân gây ra bệnh lý suy giãn tĩnh mạch chi dưới 2. Triệu chứng suy giãn tĩnh mạch chi dưới 3. Khi nào cần điều trị suy giãn tĩnh mạch chi dưới? 4. Cách phòng bệnh suy giãn tĩnh mạch chi dưới Trước đây, giãn tĩnh mạch được coi là một vấn đề thẩm mỹ chỉ ảnh hưởng tới cảm giác thoải mái của người bệnh chứ không phải là nguyên nhân gây ra tàn tật. Tuy nhiên, bệnh suy tĩnh mạch mạn tính nặng có thể dẫn tới mất chi hoặc tử vong. BSCKII Đỗ Hữu Nghị - Trưởng khoa Nội tim mạch, Bệnh viện đa khoa Hà Đông cho biết: Bệnh lý suy giãn tĩnh mạch chi dưới thường gặp ở người trên 50 tuổi, đôi khi xuất hiện cả ở những người trẻ tuổi hơn. Khi chức năng đưa máu trở lại tim của hệ thống tĩnh mạch chi dưới bị suy giảm, dẫn đến tình trạng máu ứ đọng và gây biến dạng mô xung quanh, hình thành bệnh lý suy giãn tĩnh mạch chi dưới. Bệnh gây ra những biến chứng ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày. "Suy giãn tĩnh mạch chi dưới tương đối phổ biến nhưng triệu chứng lại dễ nhầm lẫn với viêm khớp, đau khớp chân, đau thần kinh cơ dẫn đến việc điều trị không hiệu quả. Lâu dần, suy giãn tĩnh mạch chi dưới còn gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như những vết loét lâu ngày có thể nhiễm trùng và chảy máu, thậm chí là hình thành huyết khối trôi về tim, gây tắc động mạch phổi dẫn đến tử vong. Vì vậy, ngay khi phát hiện, bệnh nhân cần phải đến khám và điều trị kịp thời theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa" – BS. Nghị tư vấn. Ảnh minh hoạ. 1. Nguyên nhân gây ra bệnh lý suy giãn tĩnh mạch chi dưới Hiện nay chưa có một nguyên nhân rõ ràng nào trực tiếp gây nên bệnh lý suy giãn tĩnh mạch chi dưới. Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy có một số yếu tố nguy cơ gây nên bệnh lý này: Một số tư thế sinh hoạt hoặc đặc thù nghề nghiệp phải ngồi một chỗ lâu, ít vận động, hay phải mang vác nặng… Môi trường làm việc ẩm thấp, phải đứng lâu; Sử dụng giày không phù hợp gây tình trạng suy giãn tĩnh mạch ở phụ nữ. Những người mắc bệnh béo phì, chế độ ăn thiếu chất xơ, vitamin. Phụ nữ mang thai nhiều lần cũng dễ gặp phải bệnh lý này. Quá trình thoái hoá tuổi già là nguyên nhân hay gặp nhất gây suy giãn tĩnh mạch chi dưới. 2. Triệu chứng suy giãn tĩnh mạch chi dưới Suy giãn tĩnh mạch chi dưới có 3 giai đoạn tiến triển bệnh, nếu không để ý rất có thể bệnh nhân không nhận biết và bỏ qua cho đến khi bệnh đã ở giai đoạn biến chứng. Giai đoạn đầu: Các dấu hiệu không rõ nét, dễ dàng bị bỏ qua như: Đau mỏi chân, cảm giác nặng nề khi đi lại, mang giày thấy chật hơn bình thường; Khi đứng lâu sẽ bị mỏi hoặc phù nhẹ chân; Ban đêm có thể gặp tình trạng bị chuột rút; Có cảm giác kim châm ở vùng chân, các mạch máu nổi li ti. Hình ảnh bệnh nhân suy giãn tĩnh mạch chi dưới. Giai đoạn tiến triển: Phù chân, phù mắt cả chân hoặc cả bàn chân; Thay đổi màu sắc ở vùng da cẳng chân; Để ý sẽ thấy các tĩnh mạch nổi phồng trên da gây nên cảm giác đau nhức, khó chịu; Nặng hơn có thể xuất hiện các búi tĩnh mạch hoặc các mảng bầm máu trên da. Giai đoạn biến chứng: Khi bệnh đã ở giai đoạn 3, một số biến chứng xuất hiện rõ ràng hơn cụ thể: Bệnh nhân bị viêm tĩnh mạch nông huyết khối, lâu dần tiến triển thành thuyên tắc tĩnh mạch sâu gây thuyên tắc phổi; Giãn vỡ tĩnh mạch gây chảy máu nặng. Nhiễm khuẩn vết loét. 3. Khi nào cần điều trị suy giãn tĩnh mạch chi dưới? Tuỳ thuộc vào thể trạng và giai đoạn tiến triển bệnh mà bác sĩ chuyên khoa sẽ có những chỉ định và phương pháp điều trị cho bệnh nhân. Hiện nay, có 3 phương pháp điều trị suy giãn tĩnh mạch chi dưới: Điều trị nội khoa; Phẫu thuật; Can thiệp tĩnh mạch bằng laser nội mạch. Bài tập cho người suy giãn tĩnh mạch chânĐỌC NGAY Trong đó, can thiệp tĩnh mạch bằng laser nội mạch để điều trị suy giãn tĩnh mạch chi dưới là phương pháp hiện đại, đạt được hiệu quả cao và tiết kiệm thời gian cho bệnh nhân. Nguyên lý của phương pháp can thiệp tĩnh mạch bằng laser là phóng thích một năng lượng vừa đủ vào trong lòng tĩnh mạch để phá hủy tĩnh mạch bằng những phản ứng sinh lý không thể đảo ngược. Ưu điểm của phương pháp này là hạn chế xâm lấn, ít gây đau đớn. Sau khi can thiệp, bệnh nhân có thể đi lại và sinh hoạt bình thường. Không cần phải ở lại viện và có thể về nhà ngay trong ngày. Thời gian phục hồi nhanh khi đảm bảo tuân thủ theo hướng dẫn của bác sĩ. Không để lại sẹo, đảm bảo tính thẩm mỹ. Cũng theo BS. Nghị, tính đến tháng 5/2022, tại BVĐK Hà Đông có khoảng 100 bệnh nhân được điều trị suy tĩnh mạch bằng laser cho kết quả thành công cao, hiện tại không ghi nhận biến chứng nào theo dõi sau 1 tháng: 100% không có dòng trào ngược tái phát; 100% cải thiện triệu chứng lâm sàng và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Được biết, nếu như trước kia, bệnh nhân suy giãn tĩnh mạch chi dưới phải tốn hàng chục triệu đồng cho một lần điều trị, thì nay theo quy định của BHYT, bảo hiểm sẽ chi trả nhằm làm giảm bớt gánh nặng lớn về chi phí cho bệnh nhân. Điều trị cho bệnh nhân suy giãn tĩnh mạch chi dưới. 4. Cách phòng bệnh suy giãn tĩnh mạch chi dưới Bệnh suy giãn tĩnh mạch không những làm mất thẩm mỹ mà còn có thể gây ra những nguy hiểm khó lường. Tuy nhiên chúng ta có thể phòng tránh bệnh một cách dễ dàng, chỉ cần thay đổi lối sống và điều chỉnh thói quen sinh hoạt, chẳng hạn: - Không nên mang giày cao gót để tránh việc dồn trọng lượng cơ thể xuống hai bàn chân, gây áp lực lên các tĩnh mạch chân, nên chọn những đôi giày gót thấp vừa phải, da mềm. - Nên mặc trang phục rộng rãi, thoải mái, tránh bó sát đặc biệt là ở chân, hông. - Không nên ngồi xổm, đung đưa, vắt chéo chân gây cản trở máu lưu thông. Nên chọn ghế ngồi phù hợp, và kê cao chân khi nằm khoảng 20cm so với tim. - Không nên ngồi lâu hay đứng lâu một chỗ, nên đi lại thường xuyên, giãn cơ để các tĩnh mạch không bị quá tải. - Tập các bài tập nhẹ như chạy bộ, bơi lội, thể dục dưỡng sinh... để nâng cao sức khỏe và có lợi cho hệ thống tĩnh mạch chân. - Hạn chế tắm nước nóng hay xoa bóp dầu nóng tại vùng da bị bệnh vì sẽ làm các tĩnh mạch giãn nở to hơn, bệnh sẽ càng nặng hơn.

Xem Thêm

Medsafe: Pregabalin và nguy cơ có thể bị viêm da bóng nước và các phản ứng da tróc vảy
Thứ Tư 20/04/2022 08:15:43
Medsafe đang nêu bật nguy cơ có thể bị viêm da bóng nước hoặc phản ứng da tróc vảy với pregabalin. Mục đích để thúc đẩy việc bổ sung thêm các báo cáo và tăng cường thông tin cho tín hiệu về an toàn thuốc trên. Tín hiệu về an toàn này đã được kích hoạt sau khi trung tâm giám sát các phản ứng có hại (CARM) nhận được 1 báo cáo (CARM ID 136065) mô tả một phụ nữ 87 tuổi bị phát ban phồng rộp lan rộng khoảng 4 ngày sau khi bắt đầu dùng pregabalin. CARM đã nhận được bốn báo cáo về phản ứng da với pregabalin, hai trong số đó là phản ứng nổi mẩn đỏ và hai trong số đó là phản ứng da tróc vảy (ID CARM: 96253, 131650, 136065, 139207). Thông tin bổ sung Viêm da bóng nước là một thuật ngữ chung bao gồm một số tình trạng da phồng rộp. Cơ chế phụ thuộc vào loại phản ứng, nhưng nhiều người được cho là qua trung gian miễn dịch. Giống như viêm da bóng nước, tróc da có thể là một đặc điểm của các phản ứng có hại nghiêm trọng trên da. Mặc dù mối quan tâm tiềm ẩn về an toàn này được kích hoạt bởi một trường hợp viêm da bóng nước,  Medscape cũng khuyến khích báo cáo về các phản ứng da khác có thể liên quan đến các phản ứng có hại nghiêm trọng trên da với pregabalin. Động thái quản lý Medsafe đang đặt mối quan tâm an toàn này vào chương trình Giám sát Thuốc để khuyến khích báo cáo về phản ứng viêm da bóng nước và bong tróc da với pregabalin. Thông tin về Pregabalin Pregabalin được chỉ định để điều trị đau thần kinh ở người lớn và cũng như liệu pháp bổ trợ ở người lớn bị co giật cục bộ có hoặc không kèm theo tổng quát thứ phát Các thuốc hiện đang lưu hành tại tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông bao gồm: Moritius 75mg ( Pregabalin) Điểm tin : Ds Lê Thị Thái Lan – Đơn vị Dược lâm sàng, thông tin thuốc Nguồn : https://medsafe.govt.nz/safety/Alerts/PregabalinAndDermatitis.asp

Xem Thêm

MHRA: Amiodarone nhắc nhở về nguy cơ điều trị và cần theo dõi, giám sát bệnh nhân
Thứ Tư 20/04/2022 08:11:32
   Ngày 15 tháng 03 năm 2022, Cơ quan quản lý Y tế Anh (Medicines and Healthcare products Regulatory Agency, MHRA) đã cảnh báo về tác dụng phụ nghiêm trọng của Amiodarone. Amiodarone được sử dụng để điều trị một số loại nhịp tim bất thường, bao gồm rung tâm nhĩ và loạn nhịp nhanh. Amiodarone thường được dự trữ cho các trường hợp không thể sử dụng các phương pháp điều trị khác hoặc đã thất bại. Tuy nhiên, Amiodarone có liên quan đến các tác dụng phụ nghiêm trọng và có khả năng đe dọa tính mạng, đặc biệt là phổi, gan và tuyến giáp. Amiodarone có thời gian bán hủy trong huyết tương dài khoảng 50 ngày, có nghĩa là bất kỳ tác dụng phụ nào có thể tồn tại trong một tháng (hoặc hơn) sau khi ngừng điều trị. Do vậy,bệnh nhân nên được giám sát và xem xét thường xuyên trong quá trình điều trị. Các vấn đề về phổi có thể khởi phát chậm nhưng sau đó tiến triển nhanh chóng. Chụp cắt lớp vi tính có thể giúp xác định chẩn đoán nghi ngờ nhiễm độc phổi. Khuyến cáo dành cho nhân viên y tế: Amiodarone có thể gây ra các phản ứng có hại nghiêm trọng ảnh hưởng đến mắt, tim, phổi, gan, tuyến giáp, da và hệ thần kinh ngoại vi Thường xuyên xem xét các bệnh nhân đang điều trị amiodarone dài hạn - một số phản ứng này có thể đe dọa tính mạng nhưng khởi phát có thể bị trì hoãn Kiểm tra chức năng gan và tuyến giáp trước khi điều trị, và định kỳ 6 tháng một lần; chức năng tuyến giáp cũng nên được theo dõi trong vài tháng sau khi ngừng thuốc Mặc dù không cần thiết phải chụp phổi định kỳ ở những bệnh nhân dùng amiodarone lâu dài, nhưng hãy lưu ý bệnh nhân cần được tư vấn nếu họ có các triệu chứng hô hấp mới hoặc xấu đi và cân nhắc sử dụng chụp cắt lớp vi tính (CT) nếu nghi ngờ nhiễm độc phổi. Báo cáo các phản ứng có hại của thuốc nghi ngờ liên quan đến Amiodarone Khuyến cáo dành cho người bệnh và người nhà của người bệnh Amiodarone được sử dụng để điều trị các tình trạng nghiêm trọng về tim, trong đó tim của bạn đập không đều hoặc quá nhanh Luôn luôn đọc Tờ rơi hướng dẫn sử dụng thuốc được cung cấp cùng với các loại thuốc của bạn và làm theo lời khuyên về các loại thuốc khác cần tránh và những điều cần làm nếu bạn có tác dụng phụ Bác sĩ có thể thực hiện các xét nghiệm máu, phổi, nhịp tim và mắt của bạn trước và trong khi điều trị - điều quan trọng là phải làm các xét nghiệm này vì họ có thể xác định xem có vấn đề gì không Ngừng dùng amiodarone và đi khám bác sĩ hoặc đến ngay bệnh viện nếu bạn gặp bất kỳ hiện tượng nào sau đây trong khi điều trị hoặc trong thời gian sau khi ngừng amiodarone: Khó thở mới hoặc trầm trọng hơn hoặc ho không khỏi Vàng da hoặc mắt (vàng da), cảm thấy mệt mỏi hoặc ốm, chán ăn, đau dạ dày hoặc nhiệt độ cao Suy nhược, giảm cân hoặc tăng cân, không dung nạp nhiệt hoặc lạnh, tóc mỏng, đổ mồ hôi, thay đổi thời kỳ kinh nguyệt, sưng cổ (bướu cổ), căng thẳng, cáu kỉnh, bồn chồn hoặc giảm tập trung Nhịp tim của bạn thậm chí còn trở nên không đều hoặc thất thường, hoặc trở nên rất chậm Bất kỳ sự mất thị lực nào Tác dụng có hại của amiodarone trên phổi MHRA đã nhận được một báo cáo từ một Coroner sau cái chết do suy đa cơ quan của một phụ nữ đã được điều trị bằng amiodarone trong khoảng 5 năm và bị viêm phổi trong quá trình điều trị.  Amiodarone thường có thể gây viêm phổi (viêm phổi). Trong một số trường hợp, tình trạng viêm này có thể tiến triển thành dày hoặc sẹo (xơ hóa) nghiêm trọng hơn, có thể đe dọa tính mạng. Bệnh nhân nên được đánh giá lâm sàng cẩn thận và xem xét chụp X-quang ngực trước khi bắt đầu điều trị. Các triệu chứng của nhiễm độc phổi có thể bao gồm khó thở (có thể nghiêm trọng và không giải thích được do tình trạng tim hiện tại), ho không có đờm và suy giảm sức khỏe nói chung (mệt mỏi, sụt cân và sốt). Độc tính trên phổi thường (nhưng không phải luôn luôn) có thể hồi phục sau khi ngừng điều trị amiodaron sớm, có hoặc không có điều trị bằng corticosteroid. Nhắc nhở về theo dõi chức năng tuyến giáp Điều trị bằng amiodaron thường có thể dẫn đến suy giáp hoặc cường giáp, đặc biệt ở những bệnh nhân có tiền sử bệnh rối loạn tuyến giáp mà việc điều trị bị chống chỉ định. Mức độ xét nghiệm tuyến giáp nên được kiểm tra trước khi bắt đầu điều trị, vào khoảng thời gian 6 tháng và trong vài tháng sau khi ngừng điều trị. Đánh giá thường xuyên được khuyến khích ở những bệnh nhân có tiền sử bệnh cho thấy tăng nguy cơ rối loạn chức năng tuyến giáp. Điểm tin: ThS. Lê Thị Thái Lan Đơn vị Dược lâm sàng – Thông tin thuốc Nguồn : https://www.gov.uk/drug-safety-update/amiodarone-cordarone-x-reminder-of-risks-of-treatment-and-need-for-patient-monitoring-and-supervision  

Xem Thêm

Những điều cần biết về hậu Covid – 19 ở trẻ em
Thứ Sáu 15/04/2022 08:44:58
Hậu covid-19 là gì? Theo Tổ chức Y tế Thế giới: “Tình trạng hậu COVID-19 xảy ra ở các cá thể có tiền sử nghi ngờ hoặc chẩn đoán xác định mắc SARS-CoV-2, thường 3 tháng kể từ khi bệnh khởi phát, với triệu chứng kéo dài ít nhất 2 tháng mà không tìm được chẩn đoán thay thế”. Với trẻ em, hậu COVID-19 là thuật ngữ để chỉ một nhóm triệu chứng tồn tại lâu dài (như mệt mỏi, rối loạn vị giác, đau đầu, ho, khó thở…) trẻ gặp phải sau mắc COVID-19 trong vòng 3 tháng và có ảnh hưởng đến hoạt động hằng ngày của trẻ. Các triệu chứng này có thể tồn tại từ lúc mắc bệnh ban đầu hoặc mới xuất hiện sau khi đã khỏi bệnh và không do các căn nguyên khác gây ra. Hậu COVID-19 có hay gặp không? Tỷ lệ trẻ em có các triệu chứng dai dẳng sau mắc COVID-19 khá dao động tùy theo nghiên cứu ở các quốc gia khác nhau, ở các lứa tuổi và quần thể khác nhau, cũng như cách xác định thời gian xuất hiện triệu chứng khác nhau. Hơn nữa, các triệu chứng hay gặp của hậu COVID-19 ở trẻ em cũng đa dạng và thay đổi, tỷ lệ mắc các triệu chứng cũng khác nhau. Do đó, hiện nay con số chính xác tỷ lệ mắc hậu COVID-19 ở trẻ em chưa rõ. 3. Các biểu hiện của hậu covid -19 - Vấn đề về hô hấp: COVID-19 thường ảnh hưởng đến phổi nhất, nên các triệu chứng hô hấp kéo dài khá phổ biến, bao gồm: Ho, đau ngực, khó thở. Các triệu chứng này có thể kéo dài 3 tháng hoặc lâu hơn. - Vấn đề về tim mạch: Các triệu chứng của viêm cơ tim có thể xảy ra, bao gồm: Đau ngực, khó thở, nhịp tim không đều và mệt mỏi. - Mùi và vị: Khoảng 1/4 trẻ em từ 10-9 tuổi bị thay đổi mùi, vị giác khiến ảnh hưởng đến thói quen ăn uống và đặc biệt khiến trẻ có thể không nhận ra một số mùi nguy hiểm (khói, khét khi cháy, chập điện...) - Các vấn đề về thần kinh: Giai đoạn COVID-19 cấp tính có thể gây ảnh hưởng đến hệ thần kinh. Trong một số trường hợp hiếm có thể dẫn đến đột quỵ hoặc viêm não.Trẻ em đã từng bị COVID-19 có thể có những thay đổi nhỏ về chú ý, ngôn ngữ, vận động và tâm trạng. Mệt mỏi về tinh thần: Đãng trí hơn, giảm khả năng chú ý, học tập khó khăn hơn, đọc chậm hơn, đọc ngắt quãng, đọc lặp lại nhiều lần, khả năng viết chậm hơn… có thể xảy ra. Nếu trẻ căng thẳng, ngủ không đủ giấc có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng này. - Mệt mỏi về thể chất: Trẻ có thể dễ mệt mỏi hơn và sức chịu đựng khi hoạt động kém hơn, ngay cả khi không có các tổn thương về tim mạch hoặc hô hấp do virus gây ra. - Đau đầu: Đau đầu là một triệu chứng phổ biến trong và sau khi mắc COVID-19. Ngủ đủ giấc, uống nhiều nước, ăn uống lành mạnh và hạn chế căng thẳng có thể giúp trẻ giảm bớt. - Sức khỏe tâm thần và hành vi: COVID-19 có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của trẻ. Đặc biệt, đối với trẻ đang mắc các rối loạn, bệnh tâm thần/hành vi, việc phải nhập viện, cách ly, nghỉ học… có thể làm cho các triệu chứng trầm trọng hơn. - Hội chứng viêm đa hệ cơ quan ở trẻ em (MIS-C): Đây là một biến chứng hiếm gặp nhưng rất nặng, có nguy cơ dẫn đến tử vong, thường xảy ra từ 2 đến 6 tuần sau khi mắc COVID-19. Nhiều cơ quan trong cơ thể bao gồm tim, phổi, thận, não, da, mắt, các cơ quan tiêu hóa... có thể bị tổn thương.  Các biểu hiện bao gồm sốt dài hơn 3 ngày kèm theo:  Tổn thương da niêm mạc (nổi ban, đỏ mắt, môi đỏ, lưỡi đỏ như quả dâu tây, phù nề bàn  tay, bàn chân);  Rối loạn tiêu hóa (đau bụng, tiêu chảy, nôn);  Suy tim (mệt, xanh tái, môi nhợt, tay chân lạnh). - Các triệu chứng của bệnh đái tháo đường: Đi tiểu thường xuyên, trẻ hay khát nước, nhanh đói, giảm cân, mệt mỏi, buồn nôn, nôn, đã được báo cáo ở một số trẻ em mắc COVID-19. 4. Khi nào cần đưa trẻ đi khám sau khi trẻ bị mắc COVID-19 cấp tính? Sau khi trẻ khỏi Covid-19 sẽ dần bình phục, có thể trở lại các hoạt động thường nhật.Tuy nhiên sau trải qua một đợt bệnh thì cơ thể cần nhiều thời gian để hồi phục cũng như sẽ gặp phải tình trạng hậu Covid-19 kéo dài. Hiện tại chưa thể biết chính xác được khoảng thời gian hậu Covid-19 kéo dài bao lâu.Tuy nhiên nếu kéo dài hơn 4 tuần hoặc trẻ có các dấu hiệu của hậu covid – 19: Ho kéo dài, đau ngực, khó thở nhiều hoặc khó thở lúc nghỉ ngơi, sốt cao liên tục, phát ban, viêm kết mạc,mệt mỏi, li bì …thì cần đưa trẻ đi khám ngay. 5. Một trẻ nghi ngờ bị hậu COVID-19 được khám và điều trị như thế nào? Khi tới khám, trẻ sẽ được các bác sỹ nhi khoa thăm khám, đánh giá sức khỏe tổng thể, xác định các triệu chứng chính hiện tại. Nếu cần thiết, có chỉ định, trẻ sẽ được hội chẩn hoặc thăm khám lại bởi các bác sỹ chuyên khoa khác nhau. Trẻ sẽ được kiểm tra các xét nghiệm, các biện pháp thăm dò như chụp phim, siêu âm, đánh giá chức năng hô hấp… và có kế hoạch điều trị cụ thể cho từng trẻ.   6. Làm thế nào để dự phòng hậu COVID-19 cho trẻ? Do chưa tìm ra được nguyên nhân rõ ràng của hậu COVID-19, nên hiện nay chưa có bất kỳ một biện pháp vật lý, thuốc hay thực phẩm nào giúp ngăn chặn việc xuất hiện hậu COVID-19. Phương pháp duy nhất giúp không xuất hiện hậu COVID-19 là dự phòng nhiễm SARS-CoV-2 cho trẻ bằng các biện pháp phòng bệnh thích hợp và tiêm vaccine COVID-19 khi có chỉ định. Khi trẻ mắc COVID-19, cần theo dõi, chăm sóc trẻ theo đúng hướng dẫn của nhân viên y tếvà đưa trẻ tới khám, điều trị tại các cơ sở y tế kịp thời. Khi thấy trẻ xuất hiện các triệu chứng bất thường sau mắc COVID-19, cha mẹ có thể đưa con đến khám hậu COVID-19 tại Khoa nhi Bệnh viện đa khoa hà Đông để được thăm khám và điều trị kịp thời. Nếu có những thắc mắc hoặc cần tư vấn thêm bạn có thể vui lòng liên hệ cho chúng tôi theo số hotline của khoa Nhi chúng tôi luôn sẵn lòng giúp đỡ. Hotline khoa Nhi: 0587069566. BSCKII.Nguyễn Thị Thùy Dương – Trưởng khoa Nhi BVĐK Hà Đông ĐT: 0979251361

Xem Thêm

Kháng sinh đường tiêm sử dụng cho các đối tượng là trẻ em dựa trên thông tin tờ hdsd tại bệnh viện đa khoa Hà Đông
Thứ Sáu 15/04/2022 08:34:33
Kháng sinh là gồm 2 loại, có thể do những chất tổng hợp hay bán tổng hợp hoặc được vi sinh vật tiết ra với nồng độ rất thấp nên có khả năng đặc hiệu, kìm hãm sự phát triển hoặc tiêu diệt vi khuẩn mà không gây độc tính trầm trọng cho cơ thể người. Có rất nhiều nhóm kháng sinh khác nhau, có công dụng riêng biệt đối với từng loại vi khuẩn, chẳng hạn như một số loại kháng sinh có khả năng tiêu diệt vi khuẩn, trong khi đó một số loại chỉ có thể ngăn chặn sự phát triển của một loại vi khuẩn duy nhất. Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh đường tiêm cho các đối tượng là trẻ em cần phải đặc biệt lưu ý về liều dùng và cách dùng. Cụ thể: Liều dùng sẽ tính theo trọng lượng cơ thể đơn vị mg/kg, theo tuổi hoặc theo diện tích bề mặt cơ thể Liều lượng ước lượng cho trẻ = diện tích bề mặt cơ thể (m2) x liều người lớn/1,8 Trong mọi trường hợp nên tránh tiêm bắp cho trẻ Dưới đây, là bảng tổng hợp những lưu ý về kháng sinh đường tiêm sử dụng cho trẻ em dựa trên thông tin tờ HDSD tại Bệnh viện: https://benhvienhadong.vn/laravel-filemanager/files/9/Thông tin thuốc 31.3- KS đường tiêm cho trẻ em theo tờ HDSD.docx Nguồn tham khảo: Tờ hướng dẫn sử dụng của thuốc Biên soạn: Tổ Dược lâm sàng – Thông tin thuốc, khoa Dược, bệnh viện đa khoa Hà Đông: Ds. Nguyễn Thị Châm Hiệu đính:DS.CKII. Nguyễn Công Thục, Trưởng khoa Dược, bệnh viện đa khoa Hà Đông

Xem Thêm

Bệnh gút (GOUT) và những điều cần biết
Thứ Năm 24/03/2022 08:57:43
Bệnh Gút (Gout) là một trong những bệnh hay gặp, liên quan đến xương khớp. Theo thống kê, xu hướng mắc bệnh đang ngày càng gia tăng và trẻ hóa. Nhằm giúp độc giả chủ động hơn trong việc bảo vệ sức khỏe, bài viết này sẽ đề cập đến một số thông tin liên quan đến bệnh gút như: nguyên nhân, biểu hiện, cách điều trị và phòng bệnh.   Bệnh Gút là gì? Bệnh Gút (gout) hay còn gọi là thống phong. Nguyên nhân gây ra bệnh là do sự rối loạn chuyển hóa acid uric trong cơ thể, Ở Việt Nam, do lạm dụng bia rượu quá mức và chế độ ăn uống thừa chất đạm quá nhiều dẫn đến rối loạn chuyển hóa acid uric, gây ra bệnh Gút.  Acid uric là nhân purin có trong DNA và RNA bị phân hủy sinh lý. Sau khi hình thành, acid uric đi vào máu rồi đến thận sẽ được lọc bỏ, đào thải ra khỏi cơ thể. Khi lượng acid uric trong máu tăng cao, thận không kịp lọc để đào thải dẫn đến tích tụ thành tinh thể urat trong các mô, nhất là trong các khớp xương. Tích lũy càng nhiều càng khiến các khớp xương viêm nhiễm, đau nhức khó chịu, từ đó gây lên bệnh Gút. Người nào dễ bị bệnh Gút Tỷ lệ mắc bệnh gút là khoảng 1/200 người trưởng thành. Bệnh có thể ảnh hưởng đến mọi người, không phân biệt tuổi tác và giới tính. Tuy nhiên, nam giới từ 30–50 tuổi và phụ nữ trong giai đoạn sau mãn kinh thường mắc bệnh này nhiều hơn. Bệnh ít khi xảy ra ở người trẻ và trẻ em. Các yếu tố nguy cơ gây bệnh Gút bao gồm: Chế độ ăn quá nhiều đạm và hải sản Tuổi tác và giới tính: bệnh xuất hiện nhiều hơn ở nam giới và người lớn tuổi Uống nhiều rượu bia trong thời gian dài Béo phì Gia đình có người từng bị gút Mới bị chấn thương hoặc mới phẫu thuật Tăng cân quá mức Tăng huyết áp Chức năng thận bất thường Sử dụng một số loại thuốc có thể là nguyên nhân làm tích tụ axit uric trong cơ thể như: Aspirin, Thuốc lợi tiểu, Thuốc hóa trị liệu, Các loại thuốc có thể làm suy giảm hệ miễn dịch như cyclosporine Từng mắc các bệnh như đái tháo đường, suy giảm chức năng thận, bệnh tim, xơ vữa động mạch, tắc nghẽn mạch máu, bệnh truyền nhiễm, tăng huyết áp Mất nước Biểu hiện của bệnh Gút Bệnh gút đặc trưng bởi những đợt viêm khớp cấp tái phát, người bệnh thường xuyên bị đau đớn đột ngột giữa đêm và sưng đỏ các khớp khi đợt viêm cấp bùng phát, đặc biệt là các khớp ở ngón chân cái, nhưng cũng có thể ảnh hưởng tới các khớp khác ở chân (như đầu gối, mắt cá chân, bàn chân) và ít gặp hơn ở khớp tay (bàn tay, cổ tay, khuỷu tay), cả cột sống cũng có thể bị ảnh hưởng. Hầu hết các biểu hiện của bệnh gút thường kéo dài vài giờ trong 1–2 ngày. Tuy nhiên, đối với trường hợp nặng, cơn đau có thể xảy ra trong vòng vài tuần. Nếu người bị bệnh gút không dùng thuốc trị gút thường xuyên, các triệu chứng của bệnh sẽ nghiêm trọng hơn. U cục tophi: bệnh này đặc trưng bởi sự tích tụ tinh thể dưới da. Thông thường, các khối này sẽ xuất hiện xung quanh ngón chân, đầu gối, ngón tay và tai. Nếu không được xử lý đúng cách thì u tophi sẽ ngày càng lớn hơn. Tổn thương khớp: nếu người bệnh không dùng thuốc trị gút, khớp có thể bị tổn thương vĩnh viễn. Tình trạng này sẽ làm tăng nguy cơ tổn thương xương và các khớp khác. Tổn thương các cơ quan khác: nếu không điều trị gút đúng cách, các tinh thể acid uric không chỉ tích tụ quanh khớp mà còn tích tụ trong nội tạng như thận (gây ra sỏi thận, viêm thận kẽ, suy thận): tim (gây viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim). Các phương pháp điều trị  Gút Điều trị nội khoa: Là phương pháp quan trọng, cần thiết để điều trị dứt điểm bệnh. ở các mức độ bệnh khác nhau bác sĩ sẽ kê đơn thuốc phù hợp, bệnh nhân cần uống thuốc đều đặn, đúng giờ, đúng liều. Đơn thuốc thông thường điều trị bệnh gồm: thuốc giảm đau, thuốc chống viêm, thuốc ức chế sản sinh acid uric và thuốc tăng đào thải acid... Các thuốc hạ acid uric máu có thể phải dùng suốt đời. Điều trị ngoại khoa: Phẫu thuật cắt bỏ nốt tophi được chỉ định trong trường hợp: Gout kèm biến chứng loét Bội nhiễm hạt tophi Hạt u tophi kích thước lớn, ảnh hưởng đến vận động hoặc vì lý do thẩm mỹ Phòng ngừa bệnh Gút:Thay đổi lối sống  giúp phòng ngừa và điều trị hiệu quả  bệnh Gút: Nghe theo hướng dẫn của bác sĩ, không được tự ý uống thuốc không được chỉ định hoặc bỏ thuốc được kê đơn. Tái khám đúng lịch hẹn để được theo dõi diễn tiến bệnh cũng như tình trạng sức khỏe. Điều trị tốt các bệnh lý mạn tính có thể  gây bệnh gút thứ phát như suy thận, các bệnh lý chuyển hóa, đái tháo đường, tăng huyết áp... Tập thể dục thường xuyên:  ít nhất 30 phút mỗi ngày, 5 ngày mỗi tuần; Duy trì cân nặng hợp lý Đặc biệt cần duy trì chế độ ăn uống hợp lý: Tránh ăn nội tạng động vật, nhất là gan... Hạn chế ăn hải sản và các loại thịt đỏ (thịt bò, thịt chó...) Ăn ít chất béo bão hòa như bơ, mỡ động vật, dầu dừa, dầu lạc... Giảm sử dụng các thức uống có cồn, đặc biệt là bia rượu Hạn chế uống cà phê, trà, nước uống có ga Các loại thực phẩm bệnh nhân Gút nên hạn chế Nên ăn nhiều thực phẩm giàu chất xơ như dưa leo, rau xanh, cà chua, ... Thay thế dùng đường tinh luyện bằng đường tự nhiên trong rau củ và ngũ cốc Nên dùng các sản phẩm chứa ít chất béo Uống nhiều nước: uống từ 2,5–3 lít nước mỗi ngày Các loại thực phẩm bệnh nhân Gút nên ăn Có thể nói bệnh Gút là bệnh rối loạn chuyển hóa liên quan tới xương khớp khá nguy hiểm không nên chủ quan. Bệnh nhân bị bệnh Gút cần đến khám tại các phòng khám Nội của khoa Khám bệnh BVĐK Hà Đông để được các bác sĩ tư vấn và điều trị kip thời.

Xem Thêm

DANH MỤC TIN
Từ 1/1/2021: "Chỉ thông tuyến tỉnh với người có thẻ BHYT điều trị nội trú…"
Thứ Hai 28/12/2020 08:24:49
"Nhiều người đang hiểu thông tuyến tỉnh là tất cả người bệnh được quỹ BHYT chi trả. Tôi xin khẳng định, quy định này chỉ dành cho người đến khám và được bác sĩ chỉ định nhập viện điều trị nội trú…". Từ 1/1/2021, thông tuyến tỉnh điều trị nội trú với người có thẻ BHYT. (Ảnh: Đỗ Linh). Ông Lê Văn Phúc - Trưởng Ban thực hiện chính sách bảo hiểm y tế (Bảo hiểm xã hội VN) - trao đổi thêm thông tin liên quan tới quy định thông tuyến tỉnh khám chữa bệnh nội trú theo thẻ BHYT, có hiệu lực từ ngày 1/1/2021.  Người có thẻ BHYT hưởng lợi gì? Theo ông Lê Văn Phúc, từ ngày 1/1/2021, việc mở thêm quy định thông tuyến tỉnh điều trị nội trú giúp cho người có thẻ BHYT chủ động lựa chọn, tiếp cận dịch vụ y tế phù hợp với tình trạng bệnh, đồng thời cũng là cơ hội để các tuyến y tế nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Những trường hợp người có thẻ BHYT phát sinh nhu cầu khám, điều trị tại bệnh viện tuyến tỉnh hoặc đang ở tỉnh xa nếu bị bệnh thì có thể đến các bệnh viện tuyến tỉnh và được BHYT chi trả 100% nếu điều trị nội trú, không phải trở về địa phương để khám chữa bệnh theo tuyến như trước kia.  Ông Lê Văn Phúc - Trưởng ban thực hiện chính sách BHYT(BHXH VN). (Ảnh: TL) "Do phạm vi lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh càng rộng, người bệnh có nhiều sự lựa chọn hơn và thúc đẩy các cơ sở y tế từ tuyến cơ sở đến tuyến tỉnh nâng cao chất lượng khám chữa bệnh để thu hút, tạo sự tin tưởng cho người bệnh" - ông Lê Văn Phúc giải thích thêm. Trong đó, các nhóm đối tượng được BHYT chi trả 100% chi phí khi đi khám chữa bệnh đúng tuyến, gồm: Người có công với cách mạng, người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng, người thuộc hộ gia đình nghèo, người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo; trẻ em dưới 6 tuổi… Trước đó, Luật BHYT năm 2014 đã quy định quy định thông tuyến huyện cho hoạt động khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT từ ngày 1/1/2016. Với quy định tại Khoản 6 Điều 22 Luật BHYT, từ ngày 1/1/2021, người tham gia BHYT khi đi khám chữa bệnh không đúng tuyến tại cơ sở khám chữa bệnh tuyến tỉnh sẽ được quỹ BHYT trả chi phí điều trị nội trú theo phạm vi quyền lợi và mức hưởng như trường hợp khám chữa bệnh đúng tuyến. Đại diện Ban thực hiện chính sách BHYT cho biết thêm: "Theo quy định hiện hành, Quỹ BHYT chỉ thanh toán 60% chi phí điều trị nội trú khi vượt tuyến. Sau ngày 1/1/2021, tùy từng nhóm đối tượng tham gia BHYT theo Luật BHYT quy định, người bệnh được thanh toán chi phí khám chữa bệnh với các mức 100%, 95% hoặc 80%".  "Xin được lưu ý, với quy định thông tuyến tỉnh từ năm 2021, Quỹ BHYT chỉ chi trả 100% chi phí theo phạm vi quyền lợi và mức hưởng cho các trường hợp người bệnh tự đi khám tại bệnh viện tuyến tỉnh và có chỉ định điều trị nội trú của bác sĩ. Trường hợp người dân tự đi khám ngoại trú, sẽ phải tự chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh" - Ông Lê Văn Phúc cho. Đồng thời, quy định thông tuyến tỉnh được áp dụng với tất cả các bệnh viện tuyến tỉnh và một số bệnh viện ngành. Các tuyến trung ương như bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức, Chợ Rẫy, Thống Nhất, Trung ương 108 không áp dụng. Áp lực cho quỹ BHYT và cơ sở khám chữa bệnh Dự báo của Ban thực hiện chính sách BHYT, sau khi thông tuyến tỉnh, chi phí khám chữa bệnh sẽ gia tăng lên con số không nhỏ. "Năm 2020, quỹ BHYT chi trả 60% chi phí điều trị nội trú cho hơn 1 triệu bệnh nhân vượt tuyến với số tiền khoảng 1.250 tỉ đồng. Nếu áp số lượng bệnh nhân trên với năm 2021, trong điều kiện trả toàn bộ chi phí điều trị nội trú, chi phí BHYT dự kiến tăng ít nhất 2.000 tỉ đồng…" - ông Lê Văn Phúc ước tính. Người dân tới khám chữa bệnh theo thẻ BHYT (Ảnh: TL) Đây cũng là thách thức lớn đối với việc quản lý quỹ BHYT. Bởi theo ông Lê Văn Phúc, quỹ dự phòng BHYT chỉ có thể đáp ứng chi trả đến hết năm 2021.  Vậy cần hạn chế những tác động không mong muốn ra sao với quỹ BHYT cũng như hạn chế tình trạng "dồn ứ" cho nhiều bệnh viện tuyến tỉnh? Theo ông Lê Văn Phúc, người dân cần hiểu rõ quy định của việc thông tuyến tỉnh chỉ dành cho điều trị nội trú. Theo thống kê của BHXH VN, tới cuối tháng 12/2020, cả nước có 88 triệu người tham gia BHYT, chiếm 90,85% dân số, vượt 0,15% chỉ tiêu Nghị quyết số 01 của Chính phủ, tăng 25,6% so với năm 2015. Trong khi đó, hệ thống y tế của Việt Nam đã được vận hành theo phân cấp: Trường hợp bệnh nhẹ, người bệnh sẽ được chuyển đến cơ sở y tế tuyến xã, huyện. Trường hợp mắc bệnh nặng hơn thì mới lên tuyến tỉnh hoặc Trung ương để điều trị. Những năm qua ngành y tế đã chú trọng nâng cấp hệ thống y tế cơ sở, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và năng lực chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. "Việc thông tuyến tỉnh đối với người bệnh nội trú là đã "khoanh vùng" những người bệnh nặng, phải điều trị dài ngày, chuyên sâu, cần chăm sóc nhiều hơn…" - ông Lê Văn Phúc cho biết. Liên quan tới hạn chế tình trạng "lạm dụng" chỉ định điều trị nội trú của bác sĩ, ông Lê Văn Phúc cho biết nếu không giám sát hiệu quả, các bệnh viện sẽ đối mặt với tình trạng quá tải khi bệnh nhân điều trị nội trú gia tăng trong khi các nguồn lực còn hạn chế. "Có thể xảy ra xu hướng chỉ định điều trị nội trú kể cả với bệnh nhân bệnh nhẹ, chưa thực sự cần thiết điều trị nội trú cũng nhập viện, dễ dẫn đến quá tải BV. Chưa kể bệnh nhân nội trú kèm theo vài người thăm nom, chăm sóc gây khó khăn cho sinh hoạt của bệnh viện…" - ông Lê Văn Phúc cho biết. Theo ông Lê Văn Phúc, Bộ Y tế đang hoàn tất quy định về chỉ định nhập viện điều trị nội trú để tránh tình trạng lạm dụng điều trị nội trú khi không cần thiết. Đồng thời, Bộ cũng yêu cầu các giám đốc sở Y tế các tỉnh, thành phố chỉ đạo các cơ sở khám chữa bệnh tuyến tỉnh tăng cường công tác quản lý chất lượng dịch vụ theo đúng hướng dẫn tại Thông tư số 19/2013/TT-BYT về thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện… Nguồn: dantri.com.vn